mở đầu giới thiệu và danh mục tài liệu tham khảo, bài nghiên cứu được kết cấu thàng 4 chương: Chương 2: Giới thiệu khung phân tích, các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, cùng phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu; Chương 4: Các kết quả thực nghiệm và thảo luận; Chương 5: Nêu ra các kết luận và hàm ý chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế để làm rõ các cơ chế tác động. Tiếp theo, tác giả tổng hợp các bằng chứng thực nghiệm của các nghiên cứu trước đã nghiên cứu mối quan hệ này. Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và phát triển tài chính 2.
Tăng trưởng kinh tế 2. Các khái niệm Trong kinh tế học, tăng trưởng kinh tế chính là sự tăng lên về thu nhập của một nước theo thời gian. Sự tăng lên theo số tuyệt đối thể hiện quy mô tăng trưởng, còn sự tăng lên theo tỷ lệ thể hiện tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm qua các mốc thời gian. Để phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường dùng hai chỉ tiêu là tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân: + Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): là một chỉ tiêu kinh tế đo lường tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia trong thời kỳ nhất định (thường là một năm).
Đây là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bên trong lãnh thổ quốc gia, bất kể người sản xuất thuộc quốc tịch nào. GDP được tính như sau: = + + + (1) Trong đó: C là tiêu dùng của tất cả các cá nhân (hộ gia đình) trong nền kinh tế I là đầu tư của các nhà đầu tư G là tổng chi tiêu của chính phủ NX là xuất khẩu ròng của nền kinh tế. NX = xuất khẩu – nhập khẩu. + Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): là một chỉ tiêu kinh tế đo lường tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà quốc gia đó sản xuất trong một thời kỳ (thường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 là một năm) bằng các yếu tố sản xuất của chính mình.
Đây là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ do những người có cùng quốc tịch tạo ra, bất kể hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành bên trong hay bên ngoài quốc gia đó. Trong luận văn này, tác giả sử dụng tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội để tính toán tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nguồn gốc tăng trưởng kinh tế Trong quá trình phát triển của kinh tế học, các nhà kinh tế học đã dùng các lý thuyết kinh tế để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế: • Quan điểm của trường phái cổ điển: Hai nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điển là Adam Smith và David Ricardo là những nhà kinh tế học đầu tiên đưa ra những lý luận mang tính hệ thống về tăng trưởng kinh tế. Adam Smith đã đưa ra các học thuyết về “Gía trị lao động”, “Bàn tay vô hình”.
Theo ông, nguồn gốc của tăng trưởng là từ lao động. Sự tăng về số lượng đội ngũ người lao động và năng suất của họ chính là yếu tố hình thành nên sự tăng trưởng. Kế thừa những tư tưởng của A. Smith, Ricardo đã hoàn thiện và phát triển những lý thuyết trên.
Ông cho rằng ngành quan trọng nhất là sản xuất nông nghiệp, do đó các yếu tố đầu vào của tăng trưởng kinh tế là vốn, lao động và đất đai. Trong ba yếu tố này, đất đai là yếu tố quan trọng nhất. Khi mở rộng sản xuất nông nghiệp, người ta sẽ phải sản xuất ở những mảnh đất kém màu mỡ hơn, dẫn đến năng suất lao động giảm sút, gây ra sự tăng giá lương thực. Khi đó, tiền lương danh nghĩa của công nhân cũng tăng lên, làm lợi nhuận của nhà tư bản giảm xuống.
Các nhà tư bản không còn động cơ để sản xuất, làm cho tăng trưởng kinh tế bị hãm lại. Tóm lại, lập luận của Ricardo là đất đai quyết định chi phí sản xuất lương thực, dẫn đến quyết định lợi nhuận của nhà tư bản, lợi nhuận ảnh hưởng đến tích lũy tư bản và điều đó tác động đến tăng trưởng. Do đó, đất đai là giới hạn của sự tăng trưởng • Quan điểm của trường phái Tân cố điển: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Trong mô hình tân cổ điển, các nhà kinh tế bác bỏ quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng trong các ngành sản xuất nhất định, những tỷ lệ kết hợp của lao động và vốn là không thay đổi. Họ cho rằng các yếu tố đầu vào có thể kết hợp theo nhiều tỷ lệ khác nhau.
Theo đó, việc lựa chọn công nghệ phù hợp nhằm kết hợp có hiệu quả nhất các yếu tố đầu vào để cho năng suất cao sẽ tạo ra sự gia tăng về sản phẩm. Hay nói cách khác quan điểm này đề cao vai trò của tiến bộ kỹ thuật trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế. • Quan điểm của Keynes: Ông cho rằng tiêu dùng là yếu tố quan trọng để xác định sản lượng. Theo ông, sự trì trệ trong hoạt động kinh tế có nguyên nhân từ việc giảm xu hướng tiêu dùng của hộ gia đình khi thu nhập của họ tăng lên.
Để đạt được ổn định và tăng trưởng trong dài hạn thì cần phải có sự thúc đẩy đầu tư và tăng hiệu suất của tư bản so với lãi suất. Mặc khác, Keynes đề cao vai trò to lớn của chính phủ trong việc tạo động lực cho nền kinh tế bằng các gói kích cầu đầu tư quy mô lớn, ổn định kinh tế vĩ mô nhằm tạo môi trường ổn định cho sản xuất, đồng thời thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, lạm phát cao nhằm mở rộng khối lượng tiền tệ trong lưu thông. • Quan điểm của kinh tế học hiện đại: Việc áp dụng chính sách của Keynes đã giúp các nước thoát ra khỏi khủng hoảng. Tuy nhiên, quá lạm dụng vao trò của nhà nước đã một phần làm cho nền kinh tế thiếu đi sự linh hoạt của thị trường.
Do đó, sự xích lại dần nhau của hai trường phái kinh tế đang là xu hướng chung của các lý thuyết kinh tế hiện đại, với tiêu biểu là mô hình nền kinh tế hỗn hợp. Quan điểm về sự cân bằng của kinh tế học hiện đại là điểm giao nhau của tổng mức cung và tổng mức cầu hàng hóa. Mức cân bằng này thường không đạt mức tiềm năng, mà ở dưới mức sản lượng tiềm năng, trong điều kiện nền kinh tế hoạt động bình thường, có thất nghiệp và lạm phát. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại có cùng quan điểm với mô hình kinh tế tân cổ điển là các yếu tố đầu vào của sản xuất là lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ được dùng để xác định tổng mức cung của nền kinh tế.
Ngoài ra, lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cho rằng thị trường chức năng điều tiết hoạt động của nền kinh tế. Trên thị trường, tổng cung và tổng cầu tác động lẫn nhau và giải quyết các vấn đề về thu nhập thực, việc làm – thất nghiệp, giá cả – lạm phát. Mặt khác, chiều hướng phát triển kinh tế của các nước thế giới là nhà nước ngày càng giữ chức năng quan trọng trong đời sống kinh tế. Việc phát triển nền kinh tế thị trường cần phải có sự tham gia của chính phủ để đảm bảo cơ chế thị trường được hoạt động tốt và tránh được những khuyết tật vốn có.
Phát triển tài chính 2. Các khái niệm Adnan (2011) chỉ ra rằng phát triển tài chính là các yếu tố, chính sách và thể chế nhằm tạo ra các thị trường và trung gian tài chính hiệu quả cũng như khả năng tiếp cận vốn và các dịch vụ tài chính sâu rộng. Theo Levine (2005), chức năng của hệ thống tài chính là giảm thiểu những chi phí giao dịch và chi phí thông tin làm cản trở các hoạt động kinh tế. Một hệ thống tài chính phát triển tốt và hiệu quả sẽ có khả năng đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế thông qua việc sử dụng các nguồn lực một cách hữu ích và phân bổ chúng một cách hiệu quả.
Đồng thời, sự phát triển tài chính thông qua việc tăng tiết kiệm và đầu tư, đẩy mạnh tích lũy vốn, từ đó thúc đẩy tăng trường kinh tế của quốc gia. Đo lường phát triển tài chính Để lượng hóa mức độ phát triển tài chính, World Bank (2014c) đưa ra khoảng 100 chỉ số khác nhau, nhưng được phân loại thành 4 nhóm, bao gồm: Độ sâu tài chính (Financial Depth), Khả năng tiếp cận tài chính (Financial Access), Hiệu quả (Efficiency) và Tính ổn định (Stabilization). Trong thực tế, tỷ số giữa dư nợ tín dụng, dư nợ huy động hay cung tiền M2 so với GDP là các chỉ tiêu phổ biến để đo lường phát triển tài chính. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Tuy nhiên, phát triển tài chính không nhất thiết phải được đo lường bằng những chỉ số phức tạp, mà nó thường được đo lường một cách truyền thống bằng các chỉ số định lượng dựa trên cung tiền và tổng tín dụng.
Mặc dù các chỉ số này không cho phép tiếp cận một cách chính xác sự phát triển tài chính của một quốc gia, đó là những chỉ số duy nhất có thể tiếp cận được trong các nghiên cứu về tiền tệ được sử dụng trong các thống kê của IMF, đặc biệt là cho các nước đang phát triển. Tác giả Al-Yousif (2002) trong bài nghiên cứu của mình đã đưa ra các biện pháp đo lường sự phát triển tài chính dựa trên các chỉ số về hoạt động, quy mô và mức độ phát triển của hệ thống tài chính. Các chỉ tiêu này đo lường hoạt động của các trung gian tài chính và hiệu quả của khu vực tài chính. Để đo lường hoạt động của các trung gian tài chính, tác giả đã sử dụng tỷ lệ tiền trong lưu thông chia cho cơ sở tiền (M1).
Tỷ lệ này thấp cho thấy các tổ chức tài chính được đa dạng hóa tốt và sử dụng tốt các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. Để đo lường quy mô của khu vực tài chính, tác giả sử dụng tỷ lệ cung tiền M2 chia cho GDP, thường được dùng để đo lường mức độ tiền tệ hóa trong nền kinh tế.