phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về quá trình phát triển sản phẩm thẻ thanh toán. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn. Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động phát triển sản phẩm thẻ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội Chƣơng 4: Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động phát triển sản phẩm thẻ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội. 5 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM THẺ THANH TOÁN 1.Tổng quan quá trình phát triển sản phẩm thẻ trên thế giới và Việt Nam 1.
Tổng quan về quá trình phát triển sản phẩm thẻ trên thế giới: Thẻ thanh toán là một phƣơng thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện đại và hữu ích phổ biến tại các nƣớc đang phát triển trên thế giới, là một trong những phƣơng tiện góp phần quan trọng vào sự phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt. Thẻ thanh toán đƣợc phát triển dựa trên nền tảng công nghệ khoa học tiên tiến, việc thanh toán thẻ không chỉ thực hiện tại các ATM/EDC mà còn có thể thực hiện thanh toán qua Internet, điện thoại di động… Thẻ thanh toán ra đời từ những năm 1940 và đầu những năm 1950 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ. Năm 1949, Frank McNamara đã tạo ra sản phẩm thẻ Dinners Club, một loại thẻ cho phép chủ thẻ đi ăn các nhà hàng trong phạm vi nào đó của quốc gia và có thể thanh toán cho những bữa ăn đó vào mỗi cuối tháng.Thẻ Dinners Club là thẻ du lịch giải trí đầu tiên đƣợc phát hành vào năm 1949. Năm 1990, thẻ Dinners Club có 6,9 triệu ngƣời sử dụng trên thế giới với doanh số khoảng 16 tỷ USD.
Đến tháng 12/2010, số lƣợng thẻ Dinners Club International đạt 59,26 triệu thẻ với doanh số trên 237 tỷ USD. Thẻ American Express (AMEX) ra đời năm 1958, hiện nay đang là tổ chức thẻ du lịch giải trí lớn nhất thế giới với tổng số thẻ phát hành gấp 5 lần Dinners Club. Năm 1990, tổng doanh thu chỉ khoảng 111,5 triệu USD với khoảng 32,5 triệu thẻ thì đến năm 1993 tổng doanh thu đã tăng lên 124 tỷ 6 z USD với khoảng 35,4 triệu thẻ. Đến cuối năm 2014, số lƣợng thẻ AMEX phát hành đạt 85.
Thẻ JCB đƣợc phát hành lần đầu tại Nhật Bản vào năm 1961 bởi ngân hàng Sanwa.Năm 1981, JCB đã vƣơn ra thế giới, mục tiêu chủ yếu là hƣớng vào lĩnh vực giải trí và du lịch. Năm 1990, doanh thu thẻ JCB vào khoảng 16,5 tỷ USD với 17 triệu thẻ lƣu hành. Năm 1992, doanh thu tăng lên 30,9 tỷ USD với khoảng 27,5 triệu thẻ lƣu hành, đến năm 2014 số lƣợng thẻ JCB phát hành đạt 62.73 triệu thẻ, đƣợc chấp nhận thanh toán trên 400.000 thiết bị tại 110 quốc gia trên thế giới. Năm 1951, dựa trên cơ sở hình thành hệ thống tín dụng của John Biggins, ngân hàng đầu tiên tham gia vào việc phát hành thẻ tín dụng là Franklin National ở Long Island – NewYork.
Để có thể sử dụng thẻ tín dụng do ngân hàng Franklin National phát hành, khách hàng phải yêu câu ngân hàng này cấp cho một hạn mức tín dụng. Trƣờng hợp đƣợc ngân hàng đồng ý, khách hàng sẽ đƣợc phát hành một thẻ tín dụng để mua hàng hoá, dịch vụ. Năm 1960, một ngân hàng của Mỹ là Bank of American đã phát hành thẻ Bank American.Sau đó, ngân hàng này cấp giấy phép cho các tổ chức tài chính trong khu vực phát hành thẻ mang thƣơng hiệu Bank Americard. Trƣớc sự thành công của việc phát hành thẻ Bank Americard, một số ngân hàng phát hành thẻ khác của Mỹ đã hợp tác với nhau để tìm giải pháp cạnh tranh lại các tổ chức đã phát hành thẻ Bank Americard.
Năm 1966, 14 ngân hàng ở Mỹ quyết định thành lập một hiệp hội thẻ liên bang - gọi là “Inter Bank” để trao đổi các thông tin về thẻ tín dụng. Năm 1977, thẻ Bank Americard đƣợc đổi tên thành Visa và tổ chức Visa quốc tế đƣợc ra đời.Ngày nay, thẻ Visa đã trở thành thẻ thanh toán đƣợc sử dụng nhiều nhất trên thế giới. Năm 2014, tổ chức thẻ quốc tế Visa với hơn 21.000 thành viên là các tổ chức tài chính ngân hàng đã trở thành hệ thống 7 z thanh toán cung cấp đầy đủ các sản phẩm dịch vụ thẻ. Thẻ thanh toán Visa ngày càng phát triển và chiếm thị phần lớn trên thế giới với danh mục sản phẩm dịch vụ thẻ ngày càng đa dạng, đạt số lƣợng tỷ thẻ các loại, có mặt tại 250 nƣớc và vùng lãnh thổ khác nhau với mạng lƣới thanh toán lớn nhất và rộng khắp trên toàn cầu với 60 triệu EDC; 3.000 máy ATM tại 100 nƣớc trên thế giới.
Năm 1966,thẻ MasterCard ra đời với tên gọi ban đầu là Master Charge do hiệp hội thẻ gọi tắt là ICA (Interbank Card Association) phát hành thông qua các thành viên thế giới.Thẻ MasterCard ra đời và phát triển đã trở thành đối thủ cạnh tranh chủ yếu của thẻ Visa, góp phần đƣa thị trƣờng thẻ của thế giới ngày càng phát triển.Năm 1990, tổ chức thẻ quốc tế MasterCard có 5.000 thành viên, phát hành trên 178 triệu thẻ và trên 9 triệu điểm chấp nhận thanh toán thẻ trên toàn thế giới. Đến 31/12/2014, số lƣợng thành viên của MasterCard đã lên tới 25.000 thành viên, phát hành 7,6 tỷ thẻ. Thẻ thanh toán MasterCard đƣợc chấp nhận thanh toán tại 60 triệu điểm chấp nhận thanh toán thẻ cũng nhƣ hàng trăm nghìn các webside trên toàn thể giới. Ngày nay, hai loại thẻ thanh toán là Visa và MasterCard là hai loại thẻ đƣợc sử dụng phổ biến nhất và chiếm lĩnh thị trƣờng thẻ liên hàng trên thế giới bao gồm cả số lƣợng thẻ phát hành và doanh số thanh toán thẻ.
Thanh toán thẻ đã thực sự trở thành một phần của guồng máy kinh tế thế giới.Với các tiện ích của mình, chắc chắn thẻ thanh toán sẽ gặt hái đƣợc nhiều thành công trong thế kỷ XXI - Thế kỷ của công nghệ thông tin. Tổng quan về sản phẩm dịch vụ thẻ tại Việt Nam: Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu thế tất yếu của nền kinh tế thế giới. Để tồn tại và phát triển đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng phải có chiến lƣợc phát triển phù hợp. Việc phát triển và đa dạng hoá các hình thức thanh toán không 8 z dùng tiền mặt với công nghệ hiện đại, dịch vụ đa năng và liên kết toàn cầu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán qua ngân hàng là yêu cầu bức thiết đối với các NHTM.Sự ra đời của các hình thức thanh toán thẻ là một tất yếu khách quan nhằm đa dạng hoá hình thức thanh toán, góp phần thay đổi thói quen không dùng tiền mặt cố hữu trong dân cƣ.
Với ƣu thế về thời gian thanh toán nhanh, tính an toàn, hiệu quả sử dụng và phạm vi thanh toán rộng, thẻ thanh toán đã và đang trở thành công cụ thanh toán phổ biến và có vị trí quan trọng trong các công cụ thanh toán tại các nƣớc phát triển nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Trong giai đoạn 1996 – 2001, thị trƣờng thẻ Việt Nam còn sơ khai, nhận thức của ngƣời dân về thẻ thanh toán còn hạn chế nên các sản phẩm thẻ chủ yếu chỉ đáp ứng nhu cầu của tầng lớp dân cƣ có thu nhập cao và phần lớn chỉ là thẻ quốc tế đƣợc sử dụng khi mua sắm các hàng hoá dịch vụ ở nƣớc ngoài. Bắt đầu từ năm 2002, trên nền tảng hệ thống ngân hàng “lõi” (core banking) mới hiện đại đƣợc các ngân hàng đầu tƣ nâng cấp, các sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa lần đầu tiên đƣợc phát hành tại Việt Nam. Nhờ đó, ngƣời dân đã bắt đầu biết đến và làm quen với một phƣơng tiện thanh toán tiện lợi, nhanh gọn, dễ đăng ký, dễ sử dụng hoạt động dựa trên cơ sở tài khoản cá nhân.
Tuy nhiên, dịch vụ thẻ thanh toán thực sự sôi động , bắt đầu chiều sâu từ những năm 2006-2007 khi Chính phủ ban hành Quyết định số 291/2006/TTg về triển khai đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2011 và đặc biệt sự ra đời của Quyết định số 20/2007/NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam điều chỉnh các quy định về phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng. Điều này góp phần tạo một hành lang pháp lý rất quan trọng giúp thị trƣờng có sự phát triển vƣợt bậc về hoạt đông thanh toán và phát hành thẻ, số 9 z lƣợng các ngân hàng tham gia cung ứng dịch vụ thẻ ngày càng gia tăng với việc cho ra đời hàng loạt các sản phẩm thẻ tƣơng đối hiện đại, nhiều tính năng, tiện ích đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Các số liệu thống kê cho thấy, số lƣợng thẻ đã có sự tăng trƣởng khá nhanh. Năm 2011, toàn thị trƣờng có khoảng gần 37,5 triệu thẻ thì đến năm 2014, con số đó đã lên tới 60,5 triệu thẻ tăng gần 1,7 lần.
Số thƣơng hiệu thẻ cũng tăng từ 95 thƣơng hiệu lên khoảng 450 thƣơng hiệu thẻ các loại. Trong tổng số 60,5 triệu thẻ (tính đến cuối năm 2014) hơn 90% là thẻ ghi nợ nội địa, thẻ ghi nợ quốc tế chiếm 3,6%, thẻ tín dụng quốc tế chiếm 6,4%. Song song với hoạt động phát hành thẻ, hoạt động phát triển mạng lƣới chấp nhận thẻ và thanh toán thẻ cũng có sự phát triển khá ấn tƣợng. Hệ thống ATM và Đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ - POS đã có sự tăng trƣởng đáng kể, nhất là giai đoạn 2011-2014.
Nếu năm 2011, cả thị trƣờng mới có hơn 11.000 POS thì đến năm 2014 đã lên tới hơn 153.200 POS, tăng gần 14 lần. Bên cạnh đó là 16.000 thiết bị ATM phục vụ hoạt động rút tiền thanh toán của chủ thẻ. Việc chia sẻ mạng lƣới và đẩy mạnh kết nối liên thông hệ thống ATM, POS cũng đƣợc tích cực thực hiện đã không chỉ góp phần gia tăng thuận tiện cho chủ thẻ mà còn góp phần nâng cao hiệu quả cho hoạt động thẻ của các NHTM, tiết kiệm chi phí đầu tƣ cho mỗi ngân hàng và toàn xã hội. 10 z Đơn vị tính: Chiếc/ tỷ đồng Biểu đồ 1.Biểu đồ tăng trƣởng sản phẩm thẻ tại Việt Nam (Nguồn: Báo cáo Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam) 1.
Thuận lợi, khó khăn: - Thuận lợi: + Việt Nam với dân số đông và mức thu nhập bình quân đầu ngƣời có xu hƣớng ngày càng tăng là thị trƣờng đầy tiềm năng cho các ngân hàng thực hiện cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại.