CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về sản phẩm dịch vụ và phát triển sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại Khái niệm về sản phẩm dịch vụ của ngân hàngthương mại Khái niệm về sản phẩm nói chung hết sức phức tạp, khái niệm về SPDV của ngân hàng lại càng phức tạp hơn vì tính tổng hợp, đa dạng và nhạy cảm của hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Hiện nay, khái niệm SPDV ngân hàng cũng chưa có một quan điểm thống nhất. Trong thời gian vừa qua, trong tạp chí chuyên ngành ngân hàng và cả trên các phương tiện thông tin đại chúng có đề cập đến thuật ngữ “sản phẩm dịch vụ ngân hàng” song đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thuật ngữ này. Theo Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại của tác giả David Cox (1997), thì “hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại đều gọi là dịch vụ ngân hàng hoặc là cơ sở, điều kiện để mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng”. Cụ thể hơn, dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàngvề vốn, tiền tệ, thanh toán,…mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản,…của họ, nhờ đó ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí.
Theo luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam ngày 16/06/2010 cũng chưa có một khái niệm cụ thể nào về dịch vụ ngân hàng mà chỉ đề cập đến thuật ngữ “hoạt động ngân hàng”. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, phát triển thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và phát triển dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Tuy nhiên đâu là hoạt động kinh doanh tiền tệ và đâu là dịch vụ ngân hàng thì chưa có sự phân định rõ. Đây là một trong những điểm bất cập của luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam.
Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc. Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính c 19 of 68. 8 Như vậy, có thể hiểu sản phẩm dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính.
Hay sản phẩm dịch vụ ngân hàng là một dạng hoạt động, một quá trình, một kinh nghiệm được cung ứng bởi ngân hàng nhằm đáp ứng một nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu. Như vậy sản phẩm ngân hàng tồn tại dưới dạng dịch vụ mang bản chất tài chính. Các ngân hàng thiết kế một sản phẩm dựa trên quan niệm đó là một tập hợp các ích lợi mang đến sự thỏa mãn khách hàng mục tiêu. Nhìn chung có hai quan niệm về sản phẩm dịch vụ Ngân hàng như sau: - Quan niệm thứ nhất cho rằng, các hoạt động sinh lời của ngân hàng thương mại ngoài hoạt động cho vay thì được gọi là hoạt động dịch vụ.
- Quan niệm thứ hai cho rằng, tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại đều được coi là hoạt động dịch vụ. Quan niệm này phù hợp với thông lệ quốc tế. Trong phân tổ các ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Ngân hàng là ngành được phân tổ trong lĩnh vực dịch vụ. Theo quan điểm riêng và trong phạm vi luận văn này xin thống nhất cách hiểu về sản phẩm dịch vụ ngân hàng nói chung là tất cả những hoạt động phục vụ của ngân hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng và tìm kiếm lợi nhuận bao gồm nhận tiền gửi, tín dụng, thanh toán, chi trả kiều hối,… Khái niệm về phát triển sản phẩm dịch vụ của NHTM Theo Gerard Crellet (2000), “Phát triển là quá trình một xã hội đạt đến thỏa mãn các nhu cầu mà xã hội đó coi là cơ bản” Theo C.Mác trong “Lý thuyết phát triển”, phát triển là nhằm mở rộng quy mô sản xuất nhưng không làm tăng năng suất lao động (phát triển theo chiều rộng) và phát triển nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng (phát triển theo chiều sâu) (Vũ Thị Thanh Hiền 2014, trang 6) Từ các quan điểm trên đây, theo tác giả “Phát triển là quá trình tăng tiến, chuyển biến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô, số lượng và nâng cao chất lượng” Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc. Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính c 20 of 68. 9 Ngân hàng là ngành cung ứng dịch vụ đặc biệt đối với dân cư và nền kinh tế, sự tồn tại của ngân hàng gắn với sự tồn tại của các dịch vụ ngân hàng cung ứng.
Do vậy, việc phát triển SPDV là hết sức cần thiết nhằm góp phần củng cố ngân hàng lớn mạnh, góp phần nâng cao vị thế của ngành ngân hàng đối với nền kinh tế, khẳng định lòng tin trong dân chúng và sự tự tin trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Sự phát triển SPDV NH dựa trên hai khía cạnh: phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu. + Phát triển SPDV NH theo chiều rộng Đó là sự gia tăng quy mô, số lượng các SPDV đã có và mở thêm các SPDV mới. Điều này đồng nghĩa với việc đa dạng hóa các SPDV.
Trong xu hướng phát triển ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân hàng được coi như một siêu thị dịch vụ, một bách khoa tài chính với hàng trăm, thậm chí hàng ngàn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tùy theo mức độ phát triển của ngân hàng. Lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam đã phát triển nhanh chóng về số lượng các ngân hàng và mở rộng mạng lưới trong những năm vừa qua. Đồng thời, bản thân của mỗi ngân hàng cũng có những chiến lược đa dạng hóa SPDV cho riêng mình. + Phát triển SPDV NH theo chiều sâu Có nghĩa là hoàn thiện SPDV đã có, nó gắn liền với việc nâng cao chất lượng SPDV của ngân hàng.
Đó chính là tính chính xác, nhanh nhạy, tính tiện ích,…mà dịch vụ ngân hàng có thể mang lại cho khách hàng, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của các NHTM trong giai đoạn hiện nay. Đặc điểm về sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại Không phải tất cả các dịch vụ đều giống nhau mà rất khác nhau nhất là trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng. Những đặc trưng đã được chấp nhận rộng rãi có thể bao gồm tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không đồng nhất, tính không thể cất trữ, trách nhiệm ủy thác và dòng thông tin 2 chiều. Tính vô hình, không giống như những sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy được, không nếm được, không nghe thấy được hay không thể ngửi thấy Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc.
Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn. Lun vn là mt vn bn trình bày công trình nghiên cu v nhng tài mang tính c 21 of 68. 10 được trước khi người ta mua chúng. Vì thế khách hàng thường khó khăn trong việc ra quyết định lựa chọn và sử dụng SPDV.
Tính không thể tách rời, trong ngành dịch vụ, cung ứng thường được thực hiện cùng một lúc với tiêu thụ. Do quá trình cung cấp và quá trình tiêu dùng SPDV ngân hàng xảy ra đồng thời. Mặc khác, quá trình này thường được tiến hành theo quy trình nhất định như quy trình tín dụng, quy trình thanh toán qua ngân hàng,. Tính không thể tách biệt của SPDV còn thể hiện ở tính kết hợp, liên kết chéo, nối tiếp của các SPDV và các tiện ích đi cùng như tiền gửi thanh toán, ngân quỹ, tư vấn,… Tính không đồng nhất về chất lượng hay là tính không ổn định và khó xác định, tính này còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ.
Một mặt SPDV ngân hàng được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như: quy trình nghiệp vụ, trình độ đội ngũ nhân viên, kỹ thuật, công nghệ, khách hàng…đồng thời sự khác nhau về cách thực hiện, điều kiện thực hiện, thời gian thực hiện. Mặc khác, các yếu tố này đan xen chi phối tới chất lượng SPDV nhưng lại thường xuyên biến động; đặc biệt là đội ngũ nhân viên giao dịch trực tiếp là yếu tố quyết định tạo ra sự không ổn định và khó xác định về chất lượng SPDV, cũng làm cho chất lượng dịch vụ không ổn định. Tính không thể cất trữ, dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Tính không lưu giữ của dịch vụ sẽ không thành vấn đề khi mà nhu cầu ổn định.
Ngược lại, khi nhu cầu của thị trường thay đổi, các NHTM sẽ gặp khó khăn khi năng lực cung cấp của mình thấp hơn nhu cầu của thị trường. Trách nhiệm ủy thác, đặc tính này đề cập đến trách nhiệm ngầm định của ngân hàng với khách hàng. Ngân hàng hứa sẽ chịu trách nhiệm quản lý, trông coi các nguồn vốn và những vấn đề tài chính của khách hàng. Dòng thông tin hai chiều, kiểu tương tác này cung cấp cho các ngân hàng những thông tin quý giá về khách hàng liên quan đến sở thích, nhu cầu, yêu cầu của khách hàng,…để từ đó ngân hàng có những điều chỉnh thích hợp trong việc cung cấp SPDV.
Nhìn chung, các SPDV ngân hàng rất đa dạng phong phú và không ngừng phát triển ứng với sự phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt là sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Với mỗi loại hình dịch vụ, các ngân hàng đều cố gắng đa dạng hóa các hình Th vin lun vn, án, tiu lun, lun án, báo cáo, bài tp ln, tài, án, thc tp, tt nghip, thc s, tin s, cao hc. Chia s tài liu, lun vn, án tt nghip, h tr download tài liu lun vn.