Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH BÌNH DƯƠNG THỜI GIAN ĐẦU SAU TÁI LẬP TỈNH NĂM 1997 1. Bối cảnh quốc tế và trong nước 1. Quốc tế Những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX được xem là mở màn cho thời đại trí tuệ nhờ sự phát triển vũ bão của khoa học và công nghệ, thể hiện ở sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghệ cao như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa, công nghệ vật liệu mới. Đặc trưng của cách mạng khoa học và công nghệ mới là đưa các yếu tố thông tin và tri thức lên hàng đầu, đẩy các yếu tố cạnh tranh truyền thống như tài nguyên và quy mô sản xuất khổng lồ xuống hàng thứ yếu và người ta gọi xã hội trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ mới là xã hội thông tin hay xã hội tri thức.
Nền kinh tế tri thức đòi hỏi việc tổ chức xã hội và tổ chức kinh tế phải tập trung vào những vấn đề như sở hữu tri thức, phân phối trí lực, sáng tạo và sử dụng thông tin trong các ngành sản xuất ra các sản phẩm có hàm lượng cao về khoa học và công nghệ trên cơ sở đầu tư mạnh mẽ vào tư bản con người [11;1]. Thế giới bước vào một quá trình thực hiện các bước chuyển lớn đó là: nguồn nhân lực phải nhanh chóng được tri thức hóa, chuyển từ lao động chân tay sang lao động trí óc. Nền sản xuất lấy hàng hóa làm cơ sở chuyển sang sản xuất và phân phối trí thức, lấy công nghệ thông tin làm chủ đạo, tri thức và thông tin trở thành đòn bẩy của tăng trưởng; thông tin và tri thức không còn bị cột chặt trong một nước hay một khu vực mà lưu động không hạn chế và có khả năng mở rộng vô hạn; cuộc cách mạng thông tin làm chuyển biến to lớn trong quản lý và tổ chức, mọi hoạt động chỉ đạo, điều hành của hệ thống hành chính, của các cơ quan, xí nghiệp đòi hỏi phải có kết cấu tổ chức và hình thức quản lý mới, đặc biệt phải có con người được đào tạo đủ năng lực để đảm đương nền kinh tế trí thức và quản lý tri thức. Sự phát triển của nền kinh tế tri thức tất yếu sẽ làm thay đổi cơ cấu lao động xã hội, đặc biệt là tăng nhân lực trong các ngành dịch vụ xử lý thông tin và dịch vụ tri thức - đó là xu thế tất yếu, vì vậy, một cuộc cách mạng 10 hay đổi mới về đào tạo nguồn nhân lực trở thành cấp thiết với mỗi quốc gia.
Một số quốc gia phát triển trên thế giới đã tiên phong trong thực hiện các chiến lược về phát triển nguồn nhân lực và sự thành công của các nước đã để lại những kinh nghiệm rất hữu ích đối với các nước đang phát triển, cụ thể: Singapore: Trong giáo dục đào tạo áp dụng dạy chương trình “song ngữ” trên toàn lãnh thổ, đầu tư mạnh vào 2 trường Đại học công nghệ và Đại học Quốc gia Singapore, trong đó tập trung nguồn lực vào ngành kỹ thuật và khoa học tự nhiên; dạy nghề, đào tạo nghề, nâng cao tay nghề kỹ thuật được cải tiến và ưu tiên số một về phát triển giáo dục và đào tạo. Về đào tạo, thu hút nhân lực, áp dụng nhiều chính sách như: khuyến khích các tập đoàn, công ty tham gia đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao tay nghề, ý thức tổ chức kỷ luật cho người lao động trong quá trình làm việc. Về quản lý nhà nước, thành lập Hội đồng nhân lực quốc gia để đưa ra các định hướng, triển khai các chiến lược và giám sát công tác hoạch định nhân lực quốc gia. Nhật Bản: Chính phủ Nhật Bản chú trọng tới giáo dục - đào tạo và luôn coi đây là quốc sách hàng đầu; thực hiện chính sách tăng lương và tăng thưởng theo thâm niên; trong hoạt động của các doanh nghiệp thì chú trọng vào công tác đào tạo nguồn nhân lực về kinh doanh, tác phong làm việc tạo hình ảnh chuyên nghiệp cho đội ngũ quản lý, nhân viên và người lao động; luôn chú trọng khích lệ được tinh thần trách nhiệm và sẵn lòng vì mục tiêu chung của người lao động.
Hàn Quốc: Thực hiện Chiến lược phát triển nhân sự vừa thu hút nhân tài, nâng cao chất lượng nhân sự, không chỉ trong khu vực kinh tế tư nhân mà trong cả khối cơ quan nhà nước, thực hiện linh hoạt và đa đạng hóa đối tượng tuyển dụng nhằm tạo ra sự đa dạng về văn hóa và học hỏi kinh nghiệm từ nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Đồng thời, xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp, đây là một trong những nội dung quan trọng của đào tạo nghề được đầu tư và phát triển tại Hàn Quốc. Mỹ: Trong giáo dục - đào tạo tập trung đầu tư và thu hút đầu tư lớn cho giáo dục đại học, đặc biệt là những trường đại học hàng đầu thế giới; xây dựng hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp cộng đồng là 11 nguồn đào tạo chủ yếu kỹ năng làm việc cho người lao động. Về thu hút nhân tài, nhân lực, Chính phủ Mỹ thực hiện các chính sách tạo môi trường làm việc tốt, minh bạch, mức đãi ngộ cao.
nhằm thu hút các chuyên gia nước ngoài đến sống và làm việc tại Mỹ. Với nguồn nhân lực giỏi về khoa học nghiên cứu cũng như sản xuất, là điều kiện thuận lợi để nước Mỹ là quốc gia siêu cường của thế giới. Đối với Việt Nam trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa việc cấu trúc lại nền kinh tế nhằm tận dụng làn sóng đổi mới và chuyển giao công nghệ để đẩy nhanh quá trình phát triển đất nước thì nhất thiết phải có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực phù hợp, từ sự thành công của các nước để lại cho nước ta những kinh nghiệm hữu ích. Trong nước Công cuộc Đổi mới của Đảng và Nhà nước ta tiến hành kể từ sau năm 1986 đã và đang đạt được những thành tựu quan trọng: nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bước đầu hình thành; đời sống của nhân dân được cải thiện, dân chủ trong xã hội được phát huy; quốc phòng, an ninh được giữ vững; hoạt động đối ngoại được mở rộng, đẩy lùi tình trạng vị bao vây, cô lập.
Trong 5 năm (1991-1995), nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2%, về sản xuất công nghiệp là 13,3%, sản xuất nông nghiệp 4,5%, kim ngạch xuất khẩu 20%; cơ cấu kinh tế có bước chuyển đổi: tỉ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 22,6% năm 1990 đến 29,1% năm 1995; dịch vụ từ 39,6% lên 41,9%. Vốn đầu tư cơ bản toàn xã hội năm 1990 chiếm 15,8% GDP; năm 1995 là 27,4% (trong đó nguồn đầu tư trong nước chiếm 16,7% GDP). Đến cuối năm 1995, tổng vốn đăng ký của các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt trên 19 tỉ USD, gần 1/3 đã được thực hiện; lạm phát từ mức 67,1% năm 1991 giảm xuống còn 12,7% năm 1995 [70;354]. Những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội đã tạo tiền đề quan trọng cho Việt Nam tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh thế giới đang chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức và trong xu thế toàn cầu hóa, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân 12 lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định. Công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam không thể thành công nếu thiếu nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Sự thành công từ các nước phát triển trên thế giới cho thấy muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao đều phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, tức là những người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực”.
Việt Nam có lợi thế của nước đi sau, có thể đi thẳng vào phát triển những lĩnh vực mới của nền kinh tế tri thức, đồng thời thế mạnh lớn nhất của Việt Nam trong tương quan với các quốc gia khác là nguồn nhân lực dồi dào và có khả năng tiếp thu nhanh về công nghệ, khoa học, nhưng nguồn nhân lực nước ta vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập cần phải khắc phục, đó là chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, sự bất cập của kết cấu hạ tầng, vật chất - kỹ thuật, thể chế và năng lực quản lý nguồn nhân lực còn hạn chế nhiều mặt. Theo kết quả điều tra dân số thời điểm tháng 4/2009, Việt Nam có gần 86 triệu người, tăng 9,47 triệu người so với năm 1999, tỷ lệ tăng dân số bình quân trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm [69]. Những chỉ số đó phản ánh thực trạng về nguồn nhân lực của Việt Nam đang phát triển dồi dào. Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành, nghề.
Theo thống kê, đến năm 2010 ở nước ta lực lượng lao động là nông dân có gần 62 triệu người, khoảng 70 % dân số của cả nước, công nhân là 9,5 triệu người, khoảng gần 10% dân số của cả nước, trí thức, tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người chiếm khoảng 2,15% dân số của cả nước; nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2 triệu người [70]. Nông dân chiếm tỷ lệ cao về lực lượng lao động xã hội nhưng chất lượng trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp lại rất thấp, chủ yếu sống ở các vùng nông thôn và làm nông nghiệp truyền thống, chưa qua đào tạo, vì vậy, đã 13 dẫn đến tình trạng sản xuất nông nghiệp nước ta vẫn còn đang trong tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún, sản xuất theo kiểu truyền thống, hiệu quả sản xuất thấp. Lực lượng công nhân, theo thống kê trong tổng số 9,5 triệu công nhân cả nước có khoảng 40% làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, 60% trong khu vực ngoài nhà nước.