phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng nguồn nhân lực tại Công ty Liên doanh Điều hành Cửu Long. n 7 Chƣơng 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Công ty Liên doanh Điều hành Cửu Long.
n 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Một số vấn đề cơ bản về nguồn nhân lựcvà phát triển nguồn nhân lực 1.1 Nguồn nhân lực và phân loại nguồn nhân lực Nhân lực là sức mạnh thể lý trong mỗi ngƣời, giúp cho con ngƣời sống và vận động. Sức lực thể lý này đƣợc con ngƣời sử dụng khi tham gia vào quá trình lao động tạo ra của cải vật chất - sức lao động của con ngƣời. Nguồn nhân lực hay nguồn lực con ngƣời là khái niệm mà trong đó con ngƣời đƣợc xem xét nhƣ một nguồn lực cho sự phát triển. Tuy nhiên, theo từng cách tiếp cận riêng, các nghiên cứu đề cập tới nguồn nhân lực với những góc độ và quan điểm khác nhau.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời, nguồn lực đó đƣợc xem xét ở hai khía cạnh. Đầu tiên, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. NNL nằm ngay trong bản thân con ngƣời, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con ngƣời và các nguồn lực khác. Thứ hai, NNL đƣợc hiểu là tài nguyên nguồn lực của từng cá nhân con ngƣời.
Với nội dung là một nguồn tài nguyên của quá trình phát triển, NNL là sức lao động của con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện qua số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định. Theo Wikipedia, nguồn nhân lực là những ngƣời tạo nên lực lƣợng lao động của một tổ chức, khu vực kinh doanh hoặc nền kinh tế. " Vốn con ngƣời " đôi khi đƣợc sử dụng đồng nghĩa với "nguồn nhân lực", mặc dù vốn con ngƣời thƣờng đề cập đến hiệu ứng hẹp hơn (nghĩa là kiến thức mà các cá nhân thể hiện và tăng trƣởng kinh tế). Tƣơng tự, các thuật ngữ khác đôi khi đƣợc sử dụng bao gồm nhân lực, tài năng, lao động, nhân sự hoặc đơn giản là con ngƣời.
Theo Liên Hiệp Quốc, nguồn nhân lực là tất cả những kỹ năng, kiến thức và khả năng con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Ngày n 9 nay, NNL còn bao hàm khía cạnh về số lƣợng, không chỉ những ngƣời trong độ tuổi mà cả những ngƣời ngoài độ tuổi lao động (trích dẫn bởi Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2009). Tổ chức ngân hàng thế giới cho rằng NNL là toàn bộ vốn con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động đƣợc trong quá trình sản xuất kinh doanh hay một hoạt động nào đó. Ở đây NNL đƣợc coi nhƣ một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác nhƣng nó có vai trò đặc biệt vì nó đƣợc sử dụng để khai thác, duy trì và sử dụng các loại vốn vật chất đó.
(trích dẫn bởi Võ Đại Lƣợc, 2015) Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quan niệm rằng nhân lực đồng nghĩa với lực lƣợng lao động. Quan niệm này cho rằng, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động con ngƣời của một quốc gia đã đƣợc chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc. Tiềm năng đó bao hàm tổng hoà các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con ngƣời của một quốc gia đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi. Ở nƣớc ta, khái niệm NNL đƣợc sử dụng rộng rãi từ sau giai đoạn mở cửa, điều này đƣợc thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về NNL.
Theo Bộ Luật Lao động, NNL của xã hội bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động nhƣng có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động. Số lƣợng NNL phụ thuộc vào tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và độ tuổi lao động; chất lƣợng nguồn nhân lực phụ thuộc vào sự nghiệp giáo dục đào tạo và thể chất ngƣời lao động, yếu tố di truyền, nhu cầu sử dụng lao động ở địa phƣơng. Theo Phạm Minh Hạc (2001): NNL là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời, trƣớc hết là tiềm năng lao động, bao gồm: thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách của con ngƣời nhằm đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định, có thể là một quốc gia, một vùng, một ngành hoặc một tổ chức nhất định trong hiện tại và tƣơng lai. Quan điểm của Bùi Sỹ Lợi (2002) cũng có nhiều điểm chung với quan điểm của Phạm Minh Hạc khi cho rằng NNL của một quốc gia hay một vùng, một khu n 10 vực, một địa phƣơng là tổng hợp những tiềm năng lao động của con ngƣời có trong một thời điểm xác định.
Tiềm năng đó bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực của bộ phận dân số trong độ tuổi quy định đang có việc làm và chƣa có việc làm nhƣng có khả năng làm việc. Từ những sự phân tích trên, ở dạng tổng quát nhất, có thể hiểu NNL là khái niệm dùng để xác định nguồn sức mạnh tiềm năng của một cá nhân và tập dân cƣ, khả năng huy động nguồn sức mạnh này tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. Nguồn sức mạnh và khả năng đó đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu dân số, nhất là số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Đối với giới hạn nghiên cứu của đề tài này nguồn nhân lực sẽ đƣợc giới hạn là nguồn nhân lực trong một tổ chức nhất định.
Theo sách chuyên khảo Quản trị nguồn nhân lực, tác giả đã trình bày một khái niệm khác về nguồn nhân lực nhƣ sau: “Nguồn nhân lực cho một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các loại nguồn lực khác của tổ chức bởi đây là nguồn lực từ chính bản thân của con ngƣời. Các cá nhân thuộc tổ chức có các năng lực khác nhau, đặc điểm khác nhau và có tiềm năng phát triển khác nhau khi tham gia vào hoạt động của một tổ chức với chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao.2 Chất lƣợng nguồn nhân lực Trong một chừng mực nào đó NNL đồng nghĩa với nguồn lao động, nhƣng nói về NNL dƣới góc độ nghiên cứu là xem xét và đánh giá NNL theo số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu: Về số lƣợng: biểu hiện quy mô NNL và tốc độ tăng nguồn nhân lực Về chất lƣợng: mô tả các nhân tố cấu thành nên bản chất bên trong của NNL và mối quan hệ của chúng, biểu hiện qua bên ngoài thông qua thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, ý thức, tác phong và tinh thần lao động. n 11 Về cơ cấu: các tỷ lệ của từng bộ phận NLL đƣợc phân loại theo các tiêu thức chất lƣợng khác nhau trong tổng NNL nhƣ: cơ cấu nguồn nhân lực theo nguồn gốc hình thành, theo tuổi, theo giới tính, theo trình độ học vấn, kinh nghiệm chuyên môn… Theo PGS.
Phùng Rân thì chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc đo bằng 2 tiêu chí: “là năng lực hoạt động của NNL và phẩm chất đạo đức của NNLđó”[17,tr 2]. Năng lực hoạt động có đƣợc thông qua đào tạo, qua huấn luyện, qua thời gian làm việc đƣợc đánh giá bằng học hàm, học vị, cấp bậc công việc và kỹ năng giải quyết công việc. Phẩm chất đạo đức là khả năng dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và khó có tiêu chí nào làm thƣớc đo để đánh giá phẩm chất đạo đức của NNL. Nguyễn Tiệp thì “Chất lƣợng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ mức sống, dân trí của dân cƣ”[14, tr10].
NNL là động lực và là tác nhân vận hành cho sự phát triển kinh tế xã hội cũng nhƣ cho sự phát triển của một tổ chức. Nếu NLL có chất lƣợng thấp, số lƣợng đông trong nhiều trƣờng hợp sẽ trở thành lực cản đối với sự phát triển. Vì vậy khi xem xét NNL ngày nay ngƣời ta quan tâm chủ yếu đến sự hình thành cơ cấu và chất lƣợng tiềm tàng tạo ra giá trị của NNL. Khi NNL của một tổ chức, một quốc gia có chất lƣợng cao có nghĩa là NNL ấy có khả năng tạo ra và làm tăng giá trị, tăng lợi nhuận cho tổ chức và quốc gia đó.
Hiện nay thuật ngữ NNL chất lƣợng cao đƣợc dùng khá phổ biến, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng khoá IX, Đảng ta lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ này với quan điểm: phát triển NNL chất lƣợng cao thông qua con đƣờng phát triển giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ chính là khâu then chốt để nƣớc ta vƣợt qua tình trạng nƣớc nghèo và kém phát triển. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa XIIxác định: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lƣợng cao, tranh thủ những cơ hội và thành tựu của Cuộc cách mạng công nghiệp n 12 lần thứ 4”(tr. Mới đây Thủ tƣớng Nguyễn Xuân Phúc trong cuộc gặp mặt hơn 300 giáo sƣ, tiến sĩ đại biểu trí thức, nhà khoa học ngày 29/1/2019 cũng khẳng định: “Không có nhân tài thì không thể phát triển đƣợc đất nƣớc”, "Thành quả của công cuộc đổi mới và phát triển đất nƣớc có sự đóng góp to lớn, trực tiếp của lực lƣợng trí thức và các nhà khoa học nƣớc ta". Ngƣời đứng đầu chính phủ khẳng định, trong lịch sử, dân tộc ta luôn coi trọng vai trò của trí thức, "phi trí bất hƣng".
Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong một lần trả lời báo chí nƣớc ngoài, đã nói: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc, ở nƣớc khác nhƣ thế, ở Việt Nam càng nhƣ thế”, và “để phát triển đất nƣớc nhanh và bền vững, đòi hỏi chúng ta cần phát huy mạnh mẽ nguồn vốn trí thức, khơi dậy và huy động đƣợc sức sáng tạo của ngƣời Việt Nam”.