Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số công trình khoa học nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1. Một số công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Kanchana Kanchanasut, Akraya Nualchawee and Pensri Arunwatanamongkol (2004), Science and Technology Human Resource Development: E-learning initiative for ASEAN [126]. Ở công trình này, nhóm tác giả trình bày rõ ý tưởng về Viện Khoa học và Công nghệ Ảo ASEAN (AVIST) với mong muốn thúc đẩy sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin, truyền thông như: Internet, vệ tinh và các khóa học, chương trình dựa trên Web để thúc đẩy phát triển NNL KH&CN trong cộng đồng ASEAN.
Từ đó tác giả bài viết đưa ra những gợi ý về chính sách phát triển NNL KH&CN cho ASEAN thông qua các phương pháp học tập điện tử. Laura Cruz-Castro, Luis Sanz-Menéndez (2005), Bringing science and technology human resources back in: the Spanish Ramón y Cajal programme [127]. Công trình phân tích tình hình NNL KH&CN trong khu vực công của Tây Ban Nha, chỉ rõ những hạn chế về mặt số lượng, chất lượng và điều kiện làm việc của NNL này. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng giảm sút số lượng NNL KH&CN trong khu vực công ở Tây Ban Nha là do những bất cập trong chính sách đối với NNL này.
Các tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị về mặt chính sách của chính phủ nhằm tăng số lượng các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực công, trong đó cần đặc biệt coi trọng những chính sách nhằm thay đổi căn bản điều kiện làm việc cho các nhà nghiên cứu. Những khuyến nghị này có thể áp dụng cho các quốc gia trong phát triển NL KH&CN. Bài viết chỉ rõ hiệu quả sử dụng NNL quốc gia cho KH&CN và cạnh tranh quốc tế phụ thuộc vào sự tương tác của luan an 14 ba môi trường quốc gia liên quan với nhau gồm: môi trường phát triển NNL (môi trường cung ứng); môi trường triển khai (môi trường nhu cầu); môi trường chính sách công và pháp luật. Ba môi trường này và các mối quan hệ biện chứng, giúp hình thành động lực của NNL KH&CN.
Tác giả cho rằng, đánh giá NNL KH&CN của mỗi quốc gia dựa vào hiệu quả tương tác giữa ba môi trường trên. Căn cứ vào đó, các nhà quản lý có thể đưa ra chính sách phù hợp để phát triển NNL KH&CN. Raluca Mazilescu, Petru Mazilescu (2008), Human Resources in Science and Technology: a European Perspective [132]. Công trình đã phân tích quan điểm của một số nước châu Âu về NNL KH&CN; theo đó, các quốc gia đều nhất trí khẳng định các hoạt động KH&CN sẽ không thể có hiệu quả nếu không có nguồn lực con người.
Nhóm tác giả đã đưa ra những khuyến nghị chính sách quan trọng nhằm bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu nâng tỉ lệ các nhà nghiên cứu trên tổng lực lượng lao động lên mức 5 - 8 nhà nghiên cứu trên một nghìn người lao động. Những khuyến nghị này có giá trị tham khảo cho các quốc gia trong việc gia tăng số lượng NNL KH&CN đáp ứng nhu cầu phát triển KTXH. Department of Science and Technology, Science Education institute (2011), Human resources in science and technology [117]. Nghiên cứu này nhằm mục đích thiết lập các ước tính và cung cấp một bức tranh về NNLL trong KH&CN ở Philippines; cung cấp kiến thức và định hướng chính sách có giá trị cho cộng đồng khoa học, đặc biệt là các nhà nhân khẩu học, các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách.
Kết quả nghiên cứu này có thể được vận dụng trong phát triển NNL KH&CN của các quốc gia thuộc ASEAN. Sajit Chandra Debnath (2014), Developing Education and Human Resources in East Asian Knowledge-based Economies [134]. Bài viết giới thiệu một số vấn đề chính liên quan đến sự phát triển của giáo dục và NNL KH&CN trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức ở một số quốc gia Đông Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore. Theo tác giả, luan an 15 một nền giáo dục có tính cạnh tranh là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế tri thức ở các quốc gia; là con đường, biện pháp phát triển NNL nói chung, NNL KH&CN nói riêng có chất lượng, có tri thức và kỹ năng, đáp ứng ngày càng tốt những yêu cầu của kinh tế tri thức.
Từ đó, các tác giả đã đưa ra những khuyến nghị về chính sách nhằm phát triển giáo dục để phát triển NNL, NNNL KH&CN ở các quốc gia Đông Á. Organization for Economic Co-operation and Development - OECD (2015), Frascati Manual 2015: Guidelines for Cogllecting and Reporting Data on Research and Experimental Development [131]. Trong công trình này, tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã đưa ra những chỉ dẫn nhằm thống nhất việc thống kê, báo cáo dữ liệu hoạt động nghiên cứu và phát triển của các quốc gia. Trong đó, đã đưa ra những quan niệm cơ bản và phương thức thống kê về nhân lực KH&CN, nhân lực nghiên cứu và phát triển (R&D).
Những quan niệm này của OECD đã được nhiều quốc gia sử dụng trong việc thống kê, đánh giá NNL KH&CN quốc gia; từ đó có chính sách phù hợp để phát triển NNL KH&CN. Swapan Kumar Patra, Mammo Muchie (2018), Science and Technological Capability Building in Global South: Comparative Study of India and South Africa [137]. Công trình khẳng định, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng năng lực KH&CN. Do đó, các quốc gia phát triển đều thực hiện những chiến lược rõ ràng để tăng năng lực KH&CN.
Quá trình tăng năng lực KH&CN đòi hỏi mỗi quốc gia phải trải qua các giai đoạn: học tập, phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển NNL KH&CN và xây dựng thể chế. Từ những nhận định đó, công trình đã so sánh khả năng KH&CN của Ấn Độ và Nam Phi thông qua các chỉ số đầu vào chính như: chi phí nghiên cứu và phát triển, nhân lực KH&CN và chỉ số đầu ra, như: Xuất khẩu công nghệ cao, cán cân thanh toán công nghệ, ấn phẩm học thuật, bằng sáng chế. Nghiên cứu kết thúc với các khuyến nghị về chính sách nhằm nâng cao năng lực KH&CN cho các quốc gia đang phát triển. Một số công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực quân sự; nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự; phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự Canada - Department of National Defence (2003), Human Resources Military [115].
Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về NNL quân sự của Canada; theo đó, tác giả đã đưa ra 12 mục tiêu chiến lược phát triển NNL quân sự ở Canada. Trong đó mỗi mục tiêu đều hướng tới sự phát triển NNL quân sự và các hoạt động trong chiến lược quốc phòng. Từ đó, công trình đưa ra một số khuyến nghị về chính sách phát triển NNL quân sự nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động quân sự của Canada trong tình hình mới. Những khuyến nghị này có thể vận dụng trong phát triển NNL quân sự nói chung, NNL KH&CN quân sự của các quốc gia trong thời gian tới.
Các tác giả cho rằng, để thực hiện Học thuyết quân sự mới, Nga đã tiến hành cải cách quân đội một cách toàn diện trong đó tập trung ưu tiên hiện đại hoá hệ thống nhà trường quân sự. Trong đó, Học viện Không quân Gagarin được đầu tư phát triển thành một trung tâm hiện đại, liên hoàn với công nghệ mô phỏng toàn bộ quá trình tác chiến của lực lượng không quân Nga. Do tiến hành đổi mới phương thức đào tạo theo công nghệ mô phỏng, học viên ra trường có thể đáp ứng ngay những yêu cầu của thực tiễn thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên và nhiệm vụ khẩn cấp. Công trình đã đề cập đến nền công nghiệp quốc phòng trong quá khứ và những nét nổi bật của ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc hiện nay.
Từ đó phân tích vai trò ngày càng quan trọng của công nghiệp quốc phòng đến hiện đại hóa quân đội, đặc biệt là hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật và đào tạo NNL cho quân đội Trung Quốc. Trong đó nhấn mạnh luan an 17 ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc có vai trò to lớn, góp phần thúc đẩy sự gia tăng số lượng, nâng cao chất lượng cho NNL KH&CN quân sự của Trung Quốc. Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu, làm rõ thực lực và ảnh hưởng của quân đội trong quản trị, chỉ đạo khoa học, kỹ thuật và công nghệ ở Anh qua 15 năm (1990 - 2005). Từ đó, có những khuyến nghị về chính sách phân bổ nguồn lực cho hoạt động KH&CN cũng như phát triển đội ngũ các nhà khoa học trong quân đội Anh thời gian tới.
Tác giả cho rằng chất lượng NNL quân sự là yếu tố đóng góp nhiều nhất vào sức mạnh của các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ những năm vừa qua. Từ việc đưa ra dự báo những yêu cầu mới cho NNL này trong tương lai; tác giả đã khuyến nghị một số chính sách cải thiện chế độ đãi ngộ cho việc thu hút và giữ chân NNL chất lượng cao phục vụ cho quân đội. Tác giả khẳng định, đầu tư của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ vào giảng dạy bằng máy tính đã được thực hiện từ những năm 1950 đến nay và hiệu quả của nó là đáng chú ý. Hoạt động này bắt đầu áp dụng với các giảng viên phi công để tăng tính tương tác trong giảng dạy; sau đó phát triển sang các hoạt động giáo dục khác như xây dựng các mô phỏng nối mạng để học tập ở các đơn vị quân đội.
Từ hoạt động này, đã tác động lớn đến việc thay đổi phương pháp đào tạo nhân lực nói chung, nhân lực chất lượng cao trong các lực lượng đặc biệt của quân đội Mỹ. Nghiên cứu này cũng đưa ra những khuyến nghị nhằm phát triển công nghệ giáo dục vào đào tạo trong quân đội Mỹ thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển NNL nói chung, NNL KH&CN nói riêng cho quân đội. Theo tác giả, quân đội Nga đang trong quá trình cải tổ toàn diện về lực luan an 18 lượng, đòi hỏi phải có NNL dồi dào, nhất là NNL có chất lượng cao để bổ sung cho sự thiếu hụt quân số trước mắt và trong tương lai. Có hai phương án được đưa ra để giải quyết vấn đề này: 1) tăng thời lượng phục vụ tại ngũ cho các binh sĩ lên 18 tháng hoặc 2 năm; 2) giảm quy mô quân số của quân đội.
Dù lựa chọn theo phương án nào thì cũng phải bảo đảm chất lượng chiến đấu của quân đội trước những mối đe dọa quân sự tiềm tàng.