Luận án Tiến sĩ về Phát triển Nguồn Nhân lực Khoa học và Công nghệ Quân sự Việt Nam

Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự việt nam, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học

Trường đại học

Học viện Khoa học Quân sự

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

190
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Một số công trình khoa học nước ngoài liên quan đến đề tài luận án

1.2. Một số công trình khoa học trong nước liên quan đến đề tài luận án

1.3. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA

2.1. Những vấn đề chung về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự Việt Nam

2.2. Quan niệm, nội dung và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự Việt Nam

2.3. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự của một số quốc gia và bài học rút ra cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ VIỆT NAM

3.1. Thành tựu và hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự Việt Nam

3.2. Nguyên nhân của thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết từ thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI

4.1. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự Việt Nam

4.2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự Việt Nam

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự tại Việt Nam

Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ quân sự là một yếu tố then chốt trong việc nâng cao tiềm lực quốc phòng của Việt Nam. Nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ đảm bảo sự phát triển bền vững của khoa học và công nghệ quân sự mà còn góp phần vào việc hiện đại hóa quân đội. Theo đó, việc đào tạo nhân lực cần được chú trọng, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đảng và Nhà nước đã xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển quốc phòng. Điều này thể hiện rõ trong các chính sách và chương trình hành động cụ thể nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trong lĩnh vực này.

1.1. Tầm quan trọng của nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự

Nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ quân sự đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và ứng dụng công nghệ mới. Việc nâng cao năng lực cho đội ngũ này không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm quốc phòng mà còn tạo ra những đột phá trong nghiên cứu và phát triển. Đặc biệt, trong bối cảnh đổi mới công nghệ, việc phát triển kỹ thuật quân sựcông nghệ thông tin là rất cần thiết. Các chương trình đào tạo và phát triển nhân lực cần được thiết kế để phù hợp với yêu cầu thực tiễn, từ đó tạo ra một lực lượng quân sự mạnh mẽ, hiện đại và có khả năng ứng phó với các thách thức mới.

II. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự tại Việt Nam

Thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ quân sự tại Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều thành tựu đáng kể, nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế. Số lượng cán bộ, chiến sĩ trong lĩnh vực này đã tăng lên đáng kể, tuy nhiên, chất lượng và cơ cấu vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Nhiều chuyên gia đầu ngành còn thiếu, trong khi đó, đào tạo nhân lực chưa thực sự gắn kết với nhu cầu thực tiễn. Các chương trình đào tạo cần được cải tiến để phù hợp hơn với yêu cầu của công nghệ quân sự hiện đại. Việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này cũng cần được thúc đẩy để học hỏi kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển.

2.1. Thành tựu và hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực

Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc phát triển nguồn nhân lực cho khoa học và công nghệ quân sự. Sự gia tăng số lượng cán bộ, chiến sĩ có trình độ chuyên môn cao là một điểm sáng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như chất lượng đào tạo chưa đồng đều, cơ cấu nhân lực chưa hợp lý. Nhiều cán bộ trẻ thiếu kinh nghiệm thực tiễn, trong khi đó, các chuyên gia đầu ngành lại không đủ để đáp ứng nhu cầu. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cải thiện chất lượng đào tạo nhân lực và xây dựng một hệ thống chính sách phát triển đồng bộ hơn.

III. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự tại Việt Nam

Để phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ quân sự, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Trước hết, cần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực thông qua việc cải tiến chương trình giảng dạy, tăng cường thực hành và gắn kết với thực tiễn. Thứ hai, cần xây dựng các chính sách đãi ngộ hợp lý để thu hút và giữ chân nhân tài trong lĩnh vực này. Cuối cùng, việc hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và phát triển cũng cần được đẩy mạnh, nhằm học hỏi kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến từ các quốc gia khác. Những giải pháp này sẽ góp phần nâng cao năng lực cho nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự, đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.

3.1. Đề xuất các giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể để phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ quân sự bao gồm: cải cách chương trình đào tạo, tăng cường thực hành và nghiên cứu, xây dựng chính sách đãi ngộ hợp lý, và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Cần thiết phải có một chiến lược dài hạn để phát triển kỹ thuật quân sựcông nghệ thông tin, từ đó tạo ra một lực lượng quân sự mạnh mẽ, hiện đại. Việc thực hiện các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của khoa học và công nghệ quân sự tại Việt Nam.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số công trình khoa học nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1. Một số công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Kanchana Kanchanasut, Akraya Nualchawee and Pensri Arunwatanamongkol (2004), Science and Technology Human Resource Development: E-learning initiative for ASEAN [126]. Ở công trình này, nhóm tác giả trình bày rõ ý tưởng về Viện Khoa học và Công nghệ Ảo ASEAN (AVIST) với mong muốn thúc đẩy sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin, truyền thông như: Internet, vệ tinh và các khóa học, chương trình dựa trên Web để thúc đẩy phát triển NNL KH&CN trong cộng đồng ASEAN.

Từ đó tác giả bài viết đưa ra những gợi ý về chính sách phát triển NNL KH&CN cho ASEAN thông qua các phương pháp học tập điện tử. Laura Cruz-Castro, Luis Sanz-Menéndez (2005), Bringing science and technology human resources back in: the Spanish Ramón y Cajal programme [127]. Công trình phân tích tình hình NNL KH&CN trong khu vực công của Tây Ban Nha, chỉ rõ những hạn chế về mặt số lượng, chất lượng và điều kiện làm việc của NNL này. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng giảm sút số lượng NNL KH&CN trong khu vực công ở Tây Ban Nha là do những bất cập trong chính sách đối với NNL này.

Các tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị về mặt chính sách của chính phủ nhằm tăng số lượng các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực công, trong đó cần đặc biệt coi trọng những chính sách nhằm thay đổi căn bản điều kiện làm việc cho các nhà nghiên cứu. Những khuyến nghị này có thể áp dụng cho các quốc gia trong phát triển NL KH&CN. Bài viết chỉ rõ hiệu quả sử dụng NNL quốc gia cho KH&CN và cạnh tranh quốc tế phụ thuộc vào sự tương tác của luan an 14 ba môi trường quốc gia liên quan với nhau gồm: môi trường phát triển NNL (môi trường cung ứng); môi trường triển khai (môi trường nhu cầu); môi trường chính sách công và pháp luật. Ba môi trường này và các mối quan hệ biện chứng, giúp hình thành động lực của NNL KH&CN.

Tác giả cho rằng, đánh giá NNL KH&CN của mỗi quốc gia dựa vào hiệu quả tương tác giữa ba môi trường trên. Căn cứ vào đó, các nhà quản lý có thể đưa ra chính sách phù hợp để phát triển NNL KH&CN. Raluca Mazilescu, Petru Mazilescu (2008), Human Resources in Science and Technology: a European Perspective [132]. Công trình đã phân tích quan điểm của một số nước châu Âu về NNL KH&CN; theo đó, các quốc gia đều nhất trí khẳng định các hoạt động KH&CN sẽ không thể có hiệu quả nếu không có nguồn lực con người.

Nhóm tác giả đã đưa ra những khuyến nghị chính sách quan trọng nhằm bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu nâng tỉ lệ các nhà nghiên cứu trên tổng lực lượng lao động lên mức 5 - 8 nhà nghiên cứu trên một nghìn người lao động. Những khuyến nghị này có giá trị tham khảo cho các quốc gia trong việc gia tăng số lượng NNL KH&CN đáp ứng nhu cầu phát triển KTXH. Department of Science and Technology, Science Education institute (2011), Human resources in science and technology [117]. Nghiên cứu này nhằm mục đích thiết lập các ước tính và cung cấp một bức tranh về NNLL trong KH&CN ở Philippines; cung cấp kiến thức và định hướng chính sách có giá trị cho cộng đồng khoa học, đặc biệt là các nhà nhân khẩu học, các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách.

Kết quả nghiên cứu này có thể được vận dụng trong phát triển NNL KH&CN của các quốc gia thuộc ASEAN. Sajit Chandra Debnath (2014), Developing Education and Human Resources in East Asian Knowledge-based Economies [134]. Bài viết giới thiệu một số vấn đề chính liên quan đến sự phát triển của giáo dục và NNL KH&CN trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức ở một số quốc gia Đông Á như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore. Theo tác giả, luan an 15 một nền giáo dục có tính cạnh tranh là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế tri thức ở các quốc gia; là con đường, biện pháp phát triển NNL nói chung, NNL KH&CN nói riêng có chất lượng, có tri thức và kỹ năng, đáp ứng ngày càng tốt những yêu cầu của kinh tế tri thức.

Từ đó, các tác giả đã đưa ra những khuyến nghị về chính sách nhằm phát triển giáo dục để phát triển NNL, NNNL KH&CN ở các quốc gia Đông Á. Organization for Economic Co-operation and Development - OECD (2015), Frascati Manual 2015: Guidelines for Cogllecting and Reporting Data on Research and Experimental Development [131]. Trong công trình này, tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã đưa ra những chỉ dẫn nhằm thống nhất việc thống kê, báo cáo dữ liệu hoạt động nghiên cứu và phát triển của các quốc gia. Trong đó, đã đưa ra những quan niệm cơ bản và phương thức thống kê về nhân lực KH&CN, nhân lực nghiên cứu và phát triển (R&D).

Những quan niệm này của OECD đã được nhiều quốc gia sử dụng trong việc thống kê, đánh giá NNL KH&CN quốc gia; từ đó có chính sách phù hợp để phát triển NNL KH&CN. Swapan Kumar Patra, Mammo Muchie (2018), Science and Technological Capability Building in Global South: Comparative Study of India and South Africa [137]. Công trình khẳng định, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng năng lực KH&CN. Do đó, các quốc gia phát triển đều thực hiện những chiến lược rõ ràng để tăng năng lực KH&CN.

Quá trình tăng năng lực KH&CN đòi hỏi mỗi quốc gia phải trải qua các giai đoạn: học tập, phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển NNL KH&CN và xây dựng thể chế. Từ những nhận định đó, công trình đã so sánh khả năng KH&CN của Ấn Độ và Nam Phi thông qua các chỉ số đầu vào chính như: chi phí nghiên cứu và phát triển, nhân lực KH&CN và chỉ số đầu ra, như: Xuất khẩu công nghệ cao, cán cân thanh toán công nghệ, ấn phẩm học thuật, bằng sáng chế. Nghiên cứu kết thúc với các khuyến nghị về chính sách nhằm nâng cao năng lực KH&CN cho các quốc gia đang phát triển. Một số công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực quân sự; nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự; phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ quân sự Canada - Department of National Defence (2003), Human Resources Military [115].

Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về NNL quân sự của Canada; theo đó, tác giả đã đưa ra 12 mục tiêu chiến lược phát triển NNL quân sự ở Canada. Trong đó mỗi mục tiêu đều hướng tới sự phát triển NNL quân sự và các hoạt động trong chiến lược quốc phòng. Từ đó, công trình đưa ra một số khuyến nghị về chính sách phát triển NNL quân sự nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động quân sự của Canada trong tình hình mới. Những khuyến nghị này có thể vận dụng trong phát triển NNL quân sự nói chung, NNL KH&CN quân sự của các quốc gia trong thời gian tới.

Các tác giả cho rằng, để thực hiện Học thuyết quân sự mới, Nga đã tiến hành cải cách quân đội một cách toàn diện trong đó tập trung ưu tiên hiện đại hoá hệ thống nhà trường quân sự. Trong đó, Học viện Không quân Gagarin được đầu tư phát triển thành một trung tâm hiện đại, liên hoàn với công nghệ mô phỏng toàn bộ quá trình tác chiến của lực lượng không quân Nga. Do tiến hành đổi mới phương thức đào tạo theo công nghệ mô phỏng, học viên ra trường có thể đáp ứng ngay những yêu cầu của thực tiễn thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên và nhiệm vụ khẩn cấp. Công trình đã đề cập đến nền công nghiệp quốc phòng trong quá khứ và những nét nổi bật của ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc hiện nay.

Từ đó phân tích vai trò ngày càng quan trọng của công nghiệp quốc phòng đến hiện đại hóa quân đội, đặc biệt là hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật và đào tạo NNL cho quân đội Trung Quốc. Trong đó nhấn mạnh luan an 17 ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc có vai trò to lớn, góp phần thúc đẩy sự gia tăng số lượng, nâng cao chất lượng cho NNL KH&CN quân sự của Trung Quốc. Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu, làm rõ thực lực và ảnh hưởng của quân đội trong quản trị, chỉ đạo khoa học, kỹ thuật và công nghệ ở Anh qua 15 năm (1990 - 2005). Từ đó, có những khuyến nghị về chính sách phân bổ nguồn lực cho hoạt động KH&CN cũng như phát triển đội ngũ các nhà khoa học trong quân đội Anh thời gian tới.

Tác giả cho rằng chất lượng NNL quân sự là yếu tố đóng góp nhiều nhất vào sức mạnh của các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ những năm vừa qua. Từ việc đưa ra dự báo những yêu cầu mới cho NNL này trong tương lai; tác giả đã khuyến nghị một số chính sách cải thiện chế độ đãi ngộ cho việc thu hút và giữ chân NNL chất lượng cao phục vụ cho quân đội. Tác giả khẳng định, đầu tư của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ vào giảng dạy bằng máy tính đã được thực hiện từ những năm 1950 đến nay và hiệu quả của nó là đáng chú ý. Hoạt động này bắt đầu áp dụng với các giảng viên phi công để tăng tính tương tác trong giảng dạy; sau đó phát triển sang các hoạt động giáo dục khác như xây dựng các mô phỏng nối mạng để học tập ở các đơn vị quân đội.

Từ hoạt động này, đã tác động lớn đến việc thay đổi phương pháp đào tạo nhân lực nói chung, nhân lực chất lượng cao trong các lực lượng đặc biệt của quân đội Mỹ. Nghiên cứu này cũng đưa ra những khuyến nghị nhằm phát triển công nghệ giáo dục vào đào tạo trong quân đội Mỹ thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển NNL nói chung, NNL KH&CN nói riêng cho quân đội. Theo tác giả, quân đội Nga đang trong quá trình cải tổ toàn diện về lực luan an 18 lượng, đòi hỏi phải có NNL dồi dào, nhất là NNL có chất lượng cao để bổ sung cho sự thiếu hụt quân số trước mắt và trong tương lai. Có hai phương án được đưa ra để giải quyết vấn đề này: 1) tăng thời lượng phục vụ tại ngũ cho các binh sĩ lên 18 tháng hoặc 2 năm; 2) giảm quy mô quân số của quân đội.

Dù lựa chọn theo phương án nào thì cũng phải bảo đảm chất lượng chiến đấu của quân đội trước những mối đe dọa quân sự tiềm tàng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án Tiến sĩ về Phát triển Nguồn Nhân lực Khoa học và Công nghệ Quân sự Việt Nam của tác giả Nguyễn Quang Tạo, được thực hiện tại Học viện Khoa học Quân sự vào năm 2020, tập trung vào việc nâng cao năng lực và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ quân sự tại Việt Nam. Bài viết không chỉ phân tích thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành quân sự. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về chính sách, chiến lược và các mô hình phát triển nguồn nhân lực, giúp họ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc đầu tư vào con người trong lĩnh vực này.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác liên quan đến tâm lý và năng lực trong quân đội, hãy khám phá thêm về Nghiên cứu về tâm lý rèn luyện ý chí cho hạ sĩ quan binh sĩ tại các sư đoàn bộ binh Việt Nam, nơi đề cập đến việc phát triển ý chí và tâm lý cho quân nhân. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tìm hiểu về Năng lực chỉ huy của cán bộ cấp phân đội ở binh chủng công binh, một nghiên cứu sâu sắc về khả năng lãnh đạo trong quân đội. Cuối cùng, bài viết về Luận án tiến sĩ về vai trò của sĩ quan chỉ huy trong xây dựng hệ thống thông tin liên lạc quân sự cũng sẽ mang đến cho bạn cái nhìn toàn diện về vai trò của lãnh đạo trong việc phát triển hệ thống thông tin quân sự. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các vấn đề liên quan đến phát triển nguồn nhân lực trong quân đội.