phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm bốn chƣơng. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực CNTT. Phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực CNTT trong các CQNN tỉnh Quảng Ninh.
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực CNTT trong các CQNN tỉnh Quảng Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin 1. Khái niệm chung về công nghệ thông tin 1.
Khái niệm và đặc điểm của công nghệ thông tin a) Một số khái niệm có liên quan Khái niệm công nghệ thông tin Có rất nhiều quan niệm khác nhau về CNTT, dƣới đây là một số quan niệm có tính phổ biến nhất: Theo ách khoa toàn thƣ mở Wikipedia thì Công nghệ Thông tin (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lƣu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin. Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin đƣợc hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội" [1]. Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chƣa thiết lập một tên riêng.
Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)." Các lĩnh vực chính của công nghệ thông tin bao gồm quá trình tiếp thu, xử lý, lƣu trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông. Một vài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 lĩnh vực hiện đại và nổi bật của công nghệ thông tin nhƣ: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh tin, điện toán đám mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác. Các nghiên cứu phát triển chủ yếu trong ngành khoa học máy tính [1]. Phan Đình Diệu: “công nghệ thông tin là ngành công nghệ về xử lý thông tin bằng các phƣơng tiện điện tử, trong đó nội dung xử lý thông tin bao gồm các khâu cơ bản nhƣ thu thập, lƣu trữ, chế biến và truyền nhận thông tin” [18].
Hàn Viết Thuận thì cho rằng: “công nghệ thông tin là sự kết hợp của công nghệ máy tính với công nghệ liên lạc viễn thông đƣợc thực hiện trên cơ sở công nghệ vi điện tử” [12]. Theo Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006, thì: “công nghệ thông tin là tập hợp các phƣơng pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đƣa, thu thập, xử lý, lƣu trữ và trao đổi thông tin số”. Khái niệm cơ sở hạ tầng thông tin Theo Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006, thì: Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đƣa, thu thập, xử lý, lƣu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu. Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin Theo Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006, thì: Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả của các hoạt động này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 b) Các đặc điểm của công nghệ thông tin Ngành công nghệ có tốc độ phát triển cao CNTT bắt đầu xuất hiện từ thập niên 1970, tuy nhiên đến thập niên 1990 ngành CNTT mới thật sự phát triển và phát triển với tốc độ rất nhanh. Những tiến bộ về công nghệ trong lĩnh vực CNTT diễn tiến liên tục, có thể nói là nhanh đến chóng mặt. Thế giới ghi nhận từ sau thập niên 1990, tốc độ phát triển trung bình hàng năm của ngành duy trì từ 8%-10% và cao gấp 1,5 lần sự phát triển kinh tế của thế giới [19]. Trong ngành CNTT lƣu truyền Định luật Moore nổi tiếng với phát biểu tổng quát về khả năng chế tạo ra CPU (Central Processing Unit- Bộ vi xử lý) : "Số lƣợng transistor trên mỗi đơn vị inch vuông sẽ tăng lên gấp đôi sau mỗi năm" (CPU đƣợc xem nhƣ “bộ não” của máy vi tính, nhƣ vậy cũng có thể hiểu nôm na rằng máy vi tính chế tạo năm sau sẽ có tốc độ nhanh gấp đôi so với năm trƣớc).
Điều này giải thích tại sao nhà sản xuất có thể giảm giá thành trong khi vẫn tiếp tục nâng cao hiệu suất của phần cứng. Hãy xem sự phát triển của ngành công nghiệp phần cứng CNTT qua ví dụ sau: Năm 1946: chiếc máy tính điện tử đầu tiên có tên là ENIAC (Electronic Nummerical Intgrator and Calculator) ra đời tại Mỹ.000 bóng đèn điện tử, chiếm diện tích sàn: 167 m2, cân nặng 30 tấn, tiêu thụ điện 160 KW/h. Trong 1 giây, ENIAC chỉ có thể thực hiện 5.000 phép tính cộng, 357 phép tính nhân hoặc 38 phép tính chia. Năm 2010: Máy vi tính sử dụng chip corei7 của Intel, có khoảng 200 triệu transistor, công nghệ 45-nanometer, có khối lƣợng đủ để xách tay, điện năng tiêu thụ chỉ bằng 1 bóng đèn điện thắp sáng nhƣng có thể thực hiện đƣợc 2 nghìn tỉ phép tính trong một giây [34].
Vòng đời sản phẩm ngắn Bắt nguồn từ sự phát triển với tốc độ cao, sản phẩm CNTT thƣờng có vòng đời rất ngắn. Theo Hiệp hội Nghiên cứu Máy tính của Mỹ [7], vòng đời Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 của sản phẩm CNTT thƣờng chỉ có 2 năm và tối đa là 4 năm thì các sản phẩm CNTT đã bị xem là lạc hậu. Chi phí nghiên cứu và phát triển ngành cao Phát minh và cải tiến thƣờng xuyên là một trong những đặc điểm quan trọng của ngành. Tuy nhiên chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển của ngành lại rất cao.
Theo số liệu báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Thƣợng Hải, chi phí nghiên cứu và phát triển có thể chiếm đến 15%-20% doanh thu hàng năm [22]. Xu hướng ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trên thế giới và ở Việt Nam a) Xu hƣớng phát triển công nghệ thông tin trên thế giới - Xu hướng phát triển Chính phủ điện tử [13] Hiện nay, tồn tại nhiều xu hƣớng phát triển Chính phủ điện tử khác nhau. Tuy nhiên, những xu hƣớng này đều có điểm chung là nâng cao mức độ hài lòng của xã hội, cải tiến hiệu quả và minh bạch hoạt động chính phủ và đảm bảo tính công bằng, chuẩn mực trong quản lý nhà nƣớc. Một số đặc điểm chính trong xu hƣớng phát triển Chính phủ điện tử có thể điểm qua nhƣ sau: Phát triển Chính phủ điện tử lấy ngƣời dân làm trọng tâm, rút ngắn khoảng cách giữa ngƣời dân với các CQNN thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lƣợng cuộc sống.
Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào phát triển Chính phủ điện tử nhằm nâng cao chất lƣợng cuộc sống và huy động năng lực của mỗi ngƣời dân vào việc phát triển xã hội đồng thời nâng cao hiệu suất phục vụ của CQNN. Nâng cao chất lƣợng dịch vụ thông qua tái cơ cấu và hoàn thiện mô hình nghiệp vụ. Nâng cao hiệu quả hỗ trợ của Chính phủ đối với các doanh nghiệp, giảm bớt các thủ tục rƣờm rà để thu hút đầu tƣ, tạo môi trƣờng kinh doanh tốt hơn. Đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, tạo ra môi trƣờng cộng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 10 tác điện tử, kết nối chính phủ toàn diện tăng cƣờng tính tích hợp trong cung cấp dịch vụ hành chính công.
an hành tiêu chuẩn về công nghệ thông tin thúc đẩy tƣơng tác liên thông, công nghệ đƣợc chuẩn hóa, thông tin đƣợc cấu trúc và lƣu thống nhất, qua đó hình thành một môi trƣờng tích hợp các thành phần dữ liệu, hệ thống và tiến trình trong các cơ quan khác nhau có thể nói chuyện với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, loại trừ các thành phần trùng lặp. Đầu tƣ mạnh mẽ vào xây dựng nguồn nhân lực có chất lƣợng cao, có chính sách đãi ngộ phù hợp, xây dựng hạ tầng viễn thông tiên tiến kết nối đầy đủ giữa các CQNN với ngƣời dân và doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ dùng chung cho phép tối ƣu hóa hiệu quả đầu tƣ và nguồn lực chính phủ. Đảm bảo an toàn thông tin, bảo vệ tính riêng tƣ và nâng cao độ tin cậy dịch vụ. Xây dựng những giải pháp có tính pháp lý, giảm thiểu lo ngại về thiếu tính minh bạch trong việc sử dụng và trao đổi thông tin cá nhân trên các trang thông tin điện tử, theo dõi và quản lý hoạt động của ngƣời sử dụng trên trang thông tin điện tử cũng nhƣ lo ngại về thất thoát dữ liệu, tính an toàn thông tin trên môi trƣờng Internet.
- Xu hướng phát triển thương mại điện tử [9] Thƣơng mại điện tử là hình thức mua bán hàng hóa hay dịch vụ thông qua mạng máy tính toàn cầu. Thƣơng mại điện tử đang phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới. Thƣơng mại điện tử giúp giảm chi phí sản xuất, trƣớc hết là chi phí văn phòng, bán hàng và tiếp thị; sẽ kích thích sự phát triển của ngành công nghệ thông tin tạo cơ sở cho phát triển kinh tế tri thức. Việc nắm bắt xu hƣớng phát triển thƣơng mại điện tử trong giai đoạn tới là rất cần thiết cho các doanh nghiệp ứng dụng và kinh doanh thƣơng mại điện tử.
Những xu hƣớng mới trong tiếp thị trực tuyến và thanh toán trên nền tảng công nghệ Internet cũng tác động sâu sắc tới mọi doanh nghiệp. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của sự hiện diện trên môi trƣờng Internet là quan Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 11 trọng, nhƣng quan trọng hơn là đạt đƣợc các mục tiêu tiếp thị một cách hiệu quả nhất.