mở đầu bằng hợp đông đại ly chi tra the Visa với ngân hàng Pháp BFCE vào năm 1990. việc thẻ Trong hơn 10 năm qua, dịch vụ thẻ phát triển với tốc độ cao, từ ngân hàng được xem như một tài sản hay thương hiệu đối với những gương sản mặt thành đạt đến nay đã trở thành công cụ thanh toán thông dụng với các của mọi phẩm thẻ ngày càng đa dạng, phục vụ cho nhiều nhu cầu khác nhau tầng lớp dân cư. thẻ Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tỷ trọng thanh toán bằng thanh toán hiện chiếm 6% trong tổng số món giao dịch của các phương tiện không dùng tiền mặt. Tốc độ tăng trưởng bình quân của lượng thẻ phát hành năm 2003, ra lưu thông những năm gan day khoang 150-300%/nam.
Nếu như số lượng thẻ phát hành chỉ ở mức gần 234.700 thẻ, năm 2006 là 3,5 triệu thẻ lên đến gần thì sang năm 2007 số lượng thẻ đã tăng mạnh theo cấp số nhân 8,3 triệu thẻ.1: Số lượng thể phát hành tại Việt Nam từ 2001-2007 (Đơn vị tính: 1. Năm 2001 | 2002 | 2003 | 2004 | 2005 | 2006 | 2007 Số lượng thẻ 45 430 760 | 1.300 phát hành 2001 - 2007) (Nguôn: Báo cáo thường niên hội thẻ ngân hàng Việt Nam 27 2.2 THUC TRANG HOAT ĐỘNG THANH TOÁN THE TAI CAC NHTM TREN DIA BAN TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất, là trung tâm thương mại và kinh tế quan trọng của Việt Nam, với gần 8,5 triệu dân. Thành phố Hồ Chí Minh được xem là đầu tàu kinh tế của cả nước, là địa phương đứng đầu về tổng lượng vốn đầu tư nước ngoài, kim ngạch xuất khẩu chiếm 1/3 tổng kim ngạch của cả nước, GDP chiếm 20% cả nước, gấp 3 lần mức bình quân cả nước và xếp hàng đầu cả nước. Năm 2007, GDP bình quân đầu người đạt 2100 USD, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước và dự tính đạt 3000 USD vào năm 2010.
Thành phố cũng là nơi tiếp nhận lượng kiều hối lớn nhất nước, khoảng 60% lượng kiều hối gửi về nước hàng năm (tương đương 6 tỉ đô la bằng đường chính thức và không chính thức).HCM còn là trung tâm tài chính - tiền tệ lớn nhất và sôi động nhất dùng của cả nước. Trên địa bàn TP.HCM, tổng khối lượng thanh toán không thẻ và tiền mặt qua ngân hàng đã liên tục tăng trưởng. Riêng đối với dịch vụ tài khoản cá nhân đã có bước phát triển nổi bật nhất. Ấn tượng lớn nhất về các thẻ dich vu mà các ngân hàng đem lại cho người dân là những tiện ích mới từ hàng thanh toán.
Nhờ cập nhật và ứng dụng công nghệ hiện đại, nhiều ngân thông đã đưa vào thẻ nhiều tính năng mới như rút tiền, gửi tiền, chuyên tiên, tin về thị trường, lãi suất, tỉ giá. nên được người dân quan tâm, sử dụng ngày càng tăng. Một điểm mới trong năm qua là các đoanh nghiệp lớn trong nền kinh tế như điện lực, bưu điện, cấp nước, bảo hiểm. đã “vào cuộc” cùng ngần hàng để triển khai các loại dịch vụ mới qua thẻ, đã thúc đây thị trường toán thẻ phát triển và góp phần thực hiện chủ trương lớn của nhà nước- thanh không dùng tiền mặt trong nền kinh tÊ.
Chính sự tiện ích của thẻ là yếu tố hích. là lực hút người dân mở tài khoản và giao dich qua ngân hàng. 28 2001-2005 trên 6 tỉnh thành lớn của cả nước, TP.HCM chiếm vị trí đầu tiên, kế đến là thành phô Hà Nội.2: Thong kê phát hành thể ngần hàng ở một số tỉnh, thành phố trong các năm Địa phương Năm | Năm Năm Năm Năm 2001 | 2002 2003 2004 2005 Hà Nội 1296| 1.053 Hải Phòng 213 625| 10.1 Đối với thể quốc tế Số lượng thẻ quốc tế tăng dân qua các năm từ năm 2004, trong đó mức %. Tốc tăng năm 2005 cao nhất trong 4 năm (2004-2007) với tỷ lệ tăng 90.08 vẫn độ tăng những nắm sau tuy không tăng băng mức tăng năm 2005 nhưng 29 Bảng 2.3: Số lượng thẻ quốc tế tại TP.
HCM từ năm 2004 đến tháng 04 - 2008 2004 2005 2006 2007 |T04-2008 Số lượng thẻ quốc tê tại 402,040 | 764,180 | 978,718 | 1,093,129 | 1,132,032 TP.HCM số luỹ kế) Mức tăng trưởng qua 3.69% cac nam Sô lượng thẻ quốc tê phát hành mới tại 362,140 | 214,538 | 114,411 38,903 TPHCM (Nguồn: NHNN Thành phố Hồ Chí Minh) Thẻ quốc tế đạt mức tăng trưởng trên là do: - Thị trường thẻ tín dụng đạt mức tăng trưởng bình quân rất cao tới đây là 300%%/năm, có ngân hàng tăng trưởng đến 400% trong năm 2005 do của các thời điểm bùng nỗ dịch vụ thẻ ngân hàng. Sự tác động tích cực chương trình xúc tiến mở rộng thị phân mà các ngân hàng và các tổ chức thẻ và sự quốc tế thực hiện cùng với nhiều tính năng hấp dẫn của thẻ tín dụng tang gân xuất hiện của thẻ ghi nợ quốc tế đã khiến cho số lượng thé nam 2005 gấp đôi năm 2004 - Thu nhập đại bộ phận dân cư tăng, GDP bình quân đầu người của TP. được cải HCM cao hơn nhiều so với trung bình cả nước, mức sông người dân thiện đáng kể. Nhu cầu đi du lịch, khám chữa bệnh, công tác nước ngoài, cho séc du con em đi du học, định cư, .của người dân ngày càng tăng.
Ngoài lựa chọn lịch, thẻ tín dụng là một phương thức thanh toán được nhiều người 30 - Ngoài việc thu hút chủ thẻ trong nước, du khách và các doanh nhân nước ngoàải sống và làm việc lâu đài tại TP. HCM cũng tạo ra một lượng cầu đáng kế về dịch vụ thẻ quốc tê. mua - Thương mại điện tử phát triển tạo sự thuận lợi cho việc giao dịch là thẻ tín bán hàng hóa qua mạng trong đó phương tiện thanh toán chủ yếu ta dụng. Chính điều này đã tạo ra nhu cầu cho khách hang str dung thé.
Chung có có thể thấy điều này qua việc nhiều khách hàng đã mở thẻ tín dụng khi họ Airlines nhu cầu mua vé máy bay của hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacifc tín dụng. khi hãng này có chính sách bán vé và thanh toán qua mạng bằng thẻ Ngoài ra, thẻ tín dụng đang là xu hướng được các ngân hàng đây mạnh bởi thị trường còn quá rộng. 90% doanh số thanh toán bằng thẻ tín dụng ở đó lượng Việt Nam bắt nguồn từ du khách và người nước ngoài. Trong khi khách quốc tế đến TP.
HCM đã chiếm tới 70% lượng khách quốc tế của cả 2007, 3 nước. Trong khoảng 4,3 triệu khách quốc tế đến Việt Nam vào năm cũng là triệu khách đã tới thăm Thành phố Hồ Chí Minh, tức 70 %. Năm 2007 g 12 % năm thành phố có được bước tiến mạnh mẽ, lượng khách tăng khoản so với 2006, doanh thu ngành du lịch đạt 19.500 ty VND, tang 20%. đầu Thêm vào đó, số lượng khách quốc tế ở TP.HCM chỉ trong 6 tháng năm trước, năm 2008 dat 1,48 triệu lượt khách, tăng 16% so với cùng kỳ ng 14.600 tỉ chiếm 59,2% so với cả nước.
Doanh thu ngành du lịch đạt khoả g tông số đồng, tăng 40% so với cùng kỳ và chiếm 39,45% của cả nước. Tron 0 tỉ, SỐ còn doanh thu này, khối nhà hàng và khách sạn đã đóng góp trên 10.90 của thẻ quốc lại là từ khối lữ hành. Với những số liệu trên chứng tỏ tiềm năng tế tại TP. HCM là rất lớn.
Đây là cơ hội đề các ngân hàng trên địa ban tang số lượng thẻ quốc tế phát hành và tăng doanh sô thanh toán thẻ.4: Doanh số hoạt động thẻ quốc tế tại TP. HCM từ năm 2004 đến tháng 04 - 2008 CHỈ TIỂU 2004 2005 2006 2007 Doanh số hoạt động thẻ quốc tế (nghìn 366,637 | 810,449 | 620,748 | 937,949 USD) Mức tăng trưởng qua SỐ 221.10% cac nam (Nguôn: NHNN Thành phố Hồ Chí Minh) 2005 Nhìn vào bảng 2.9, ta thấy doanh số phát hành thẻ quốc tế năm và tiếp tục đạt mức đạt 810,449 nghìn USD, tăng 221.05% so với năm 2004, doanh số phát tăng cao trong 2 năm 2006 - 2007. Sự tăng trưởng mạnh của đặc biệt là số lượng hành thẻ quốc tế cùng với sự phát triển của ngành du lịch, đến khách quốc tế đến TP. HCM trong thời gian qua, đã tác động tích cực doanh số hoạt động thẻ của các ngân hàng.2 Đối với thẻ nội địa biết đến So với thẻ quốc tế, thẻ nội địa được dùng nhiều hơn và được lần so với với tên gọi thẻ ATM.
Số lượng thẻ ATM được phát hành gấp nhiều thẻ quốc tế do điều kiện phát hành và sử dụng thẻ đơn giản.1: Số lượng thẻ nội địa tại TP.HCM từ năm 2004 đến tháng 04 - 2008 7,889,025 7,944,849 8,000,000 6,834,820 7,000,000: 6,000,000: 4,958,462 5,000,000. 1,000,000: A) nh 2004 2005 200 2007 104-2008 (Nguén: NHNN Thanh pho Hô Chí Minh) Cùng với tốc độ phát triển thẻ của cả nước, số lượng thẻ nội địa phát hành tại TP. HCM đạt mức tăng trưởng cao. Tổng số lượng thẻ nội địa của các ngân hàng tính đến tháng 04 năm 2008 đạt khoảng 7,9 triệu thẻ.
Hiện nay đã có trên 30 ngân hàng phát hành thẻ nội địa với sự đa dạng, nhiều chủng loại, đồng thời để tăng tính bảo mật cho thẻ, các ngân hàng đang dần chuyển đổi công nghệ thẻ từ sang thẻ chíp, loại thẻ thông minh được đánh giá là có thể ngăn ngừa các hoạt động gian lận băng các bộ vi xử lý bên trong con chíp gắn vào thẻ. Thẻ còn tăng cường khả năng bảo mật bằng cách thay thế chữ ký 33 ngừa gian lận mà thẻ chip còn là nên tảng cho các thế hệ thẻ mới với nhiều tính cạnh tranh, đa dạng sản pham và cung cấp dịch vụ. Điều này sẽ phần nào phí tác động đến sự lựa chọn của các chủ thẻ, thay vì lựa chọn những thẻ có thường niên và lãi suất thấp sang lựa chọn thẻ mang nhiều tiện ích và có phong cách riêng. Một số ngân hàng trong nước đã thấy được van dé nay va lựa chon thé chip phat hanh nhu Ngan hang TMCP Ngoai quốc doanh (VPBank).
Không chỉ nỗ lực gia tăng số lượng thẻ phát hành, trong năm qua các ngân hàng đã tích cực gia tăng các tính năng tiện ích trên sản phẩm thẻ nội địa nhằm tăng tính cạnh tranh, tạo sự khác biệt với các sản phẩm cùng loại đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.