mở đầu cho hàng loạt những công tác nối tiếp như điều tra cơ bản, quy hoạch, phân bố lực lượng sản xuất, thăm dò và khai thác tài nguyên, quản lý đất đai, nông - lâm nghiệp, giao thông vận tải, bảo vệ môi trường….; là những tài liệu cơ bản phục vụ chung cho nhiều ngành, nhiều mục đích. Ứng dụng khoa học kỹ thuật cao đáp ứng nhu cầu quốc tế hoá: với việc công nghệ càng ngày càng phát triển Vốn đầu tư lớn: khoa học ngày một phát triển với công nghệ hiện đại đòi hỏi một lượng vốn lớn cho ứng dụng khoa học công nghệ và sử dụng máy móc thiết bị phục vụ công việc. Tính xã hội hoá: công tác đo đạc và bản đồ đòi hỏi một lượng vốn lớn để đầu tư về nguồn lực và nhân lực cũng như trang thiết bị nên nhà nước khuyến khích tư nhân tham gia vào hoạt động đo đạc và bản đồ nhằm huy động vừa vốn vừa nhân lực. Yêu cầu phát triển ngành Vì đo đạc và bản đồ là hoạt động điều tra cơ bản xây dựng hạ tầng thông tin địa lý phục vụ cho các ngành các lĩnh vực, thông tin đo đạc và bản đồ là một loại hạ tầng thông tin rất quan trọng, trợ giúp trực tiếp cho các quyết định và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về lãnh thổ, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường… Chớnh vỡ tầm quan trọng của nó nên đòi hỏi phải đảm bảo tính thống nhất, tính đồng bộ và khoa hoc, chính xác, đầy đủ và kịp thời.
Tính cấp thiết phát triển ngành đo đạc và bản đồ: thể hiện ở vai trò của ngành đối với nền kinh tế: Từ thời thượng cổ, con người đã biết thể hiện bề mặt trái đất lên mặt phẳng thông qua những nét vẽ tượng trưng làm tài liệu mô tả nơi cư trú và đương đi lối lại tới các địa điểm mưu sinh thuộc phạm vi lãnh thổ của họ, tài liệu đó được gọi chung là bản đồ. Xã hội loài người càng phát triển thì bản đồ càng được thể hiện chính xác, vai trò của bản đồ trong cuộc sống ngày càng trở nên quan trọng hơn. Từ nhu 7 cầu của cuộc sống, môn khoa học trắc địa và bản đồ đã được hình thành (còn gọi là đo đạc và bản đồ). Nhiệm vụ khoa học của trắc địa và bản đồ là nghiên cứu để xác định các yếu tố hình học và sự biến động hình học của trái đất và thể hiện những thông tin trên bề mặt trái đất lên mô hình.
Nhiệm vụ kỹ thuật của trắc địa và bản đồ là hình thành các giải pháp công nghệ, thiết bị nhằm mục đích định vị, đo đạc các yếu tố hình học, thiết lập mô hình, liên hệ giữa mặt đất thực với mô hình, đưa thiết kế từ mô hình ra thực địa. Hai nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật của trắc địa và bản đồ luôn thống nhất với nhau và hỗ trợ cho nhau. Khi phạm vi quan tâm của con người ngày càng rộng thì nhiệm vụ khoa học của trắc địa và bản đồ càng lớn. Trước đây, người ta chỉ quan tâm đến một không gian hẹp xung quanh thì người ta có thể coi mặt đất là phẳng.
Sau đó, người ta mở rộng tầm mắt tới cả nước, cả khu vực, cả lục địa và tới toàn cầu thì trái đất được coi là hình cầu, hỡnh ờ-lớp-xụ-ớt tròn xoay, hỡnh ờ-lớp-xụ-ớt 3 trục. Đến nay, khi con người đã bước vào vũ trụ thì nhiệm vụ khoa học của trắc địa và bản đồ cũng mở rộng đến các hành tinh khỏc, cỏc hệ sao khác và các thiên hà khác. Nhiệm vụ khoa học càng rộng thì phương pháp công nghệ để đáp ứng cho nhiệm vụ đó càng có cơ hội phát triển. Phương pháp trắc địa vũ trụ đã hình thành và phát triển để đáp ứng nhiệm vụ khoa học của trắc địa và bản đồ cho vũ trụ, đồng thời đó cũng là cuộc cách mạng công nghệ cho trắc địa và bản đồ phục vụ bề mặt trái đất.
Kết quả của đo đạc và bản đồ là thông tin. Đó là thông tin về trái đất, thông tin về bề mặt đất, thông tin về vũ trụ mà con người quan tâm, đồng thời đó là cơ sở để thể hiện các thông tin khác gắn với mặt đất. Trên cơ sở các phương pháp định vị để xác định tọa độ và độ cao, các đối tượng và hiện tượng trên bề mặt trái đất được đo đạc, xác định và thể hiện, trình bày thành bản đồ (một dạng của mô hình bề mặt đất) bằng một hệ thống ký hiệu quy ước để phục vụ người sử dụng. Bản đồ là mô hình trên mặt phẳng thể hiện bề mặt đất khá phức tạp với rất nhiều thông tin đa dạng.
Nhà bản đồ học cần phải thể hiện những thông tin trên bề mặt đất lên bản đồ theo mục tiêu mà bản đồ đó phục vụ bằng một loại ngôn ngữ riêng có liên quan đến đồ họa. Từ khi công nghệ thông tin phát triển mạnh, người ta tìm giải pháp thay thế bản đồ truyền thống trên giấy bằng mô hình khác của bề mặt trái đất lên máy tính. Đú chớnh là hệ thống thông tin địa lý với khả năng thể hiện phong phú hơn, đa dạng hơn. Sự ra đời của kỹ thuật chụp ảnh nửa cuối thế kỷ XIX đã tạo ra một công cụ 8 hữu hiệu cho khoa học trắc địa và bản đồ là bộ môn trắc địa ảnh.
Những tấm ảnh chụp từ máy bay, và nhiều năm trở lại đây là cả từ vệ tinh, với độ phân giải thấp, trung bình, cao và siêu cao cung cấp cho con người hình ảnh mặt đất, hoặc khái quát cả một vùng rộng lớn hoặc chi tiết cụ thể đến từng mét. Nhờ đó có thể khám phá cận cảnh hoặc từ xac các chi tiết cần thiết, tăng cường độ chính xác nghiên cứu các đối tượng, hiện tượng mặt đất và đẩy nhanh tốc độ, nâng cao chất lượng và độ chính xác của bản đồ. Từ những năm 50 của thế kỷ XX, kỹ thuật chụp và phân tích ảnh đa phổ được đưa và ứng dụng, công nghệ viễn thám từ đó đã ra đời. Xuất phát từ nguyên lý vật thể có cấu trúc vật chất khác nhau sẽ phản ứng có chọn lọc đối với các phổ sóng điện từ khác nhau, công nghệ viễn thám nghiên cứu các phương pháp thu và xử lý ảnh đa phổ để xác định tính chất các đối tượng mặt đất, tạo ra rất nhiều khả năng ứng dụng mới cho đo đạc và bản đồ.
Những năm 90 của thế kỷ XX, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và công nghệ vệ tinh đã tọa ra bước ngoặt cơ bản cho phát triển trắc địa và bản đồ. Việc áp dụng công nghệ số vào trắc địa và bản đồ đã cho phép đổi mới toàn diện công nghệ trắc địa và bản đồ, từ phương pháp luận tới loại hình sản phẩm, đang thay thế hầu như toàn bộ công nghệ trắc địa và bản đồ truyền thống. Công nghệ định vị vệ tinh (GPS) và công nghệ chụp ảnh vệ tinh (RS) đã trở thành công cụ chủ yếu để thu nhận thông tin trên bề mặt trái đất. Thông tin trắc địa và bản đồ được thay thế bằng thông tin địa lý, một lớp thông tin quan trọng của hạ tầng thông tin phục vụ xã hội.
Thông tin địa lý được quản lý, sử lý, khai thác, kết xuất trong hệ thống thông tin địa lý (GIS), ngày càng trở thành công cụ phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tất cả các thông tin được phân lớp, thể hiện theo nhiều chiều, thể hiện bằng tín hiệu số, đó là những đặc điểm mà bản đồ truyền thống không thể nào có được. Dữ liệu địa lý có thể trao đổi qua mạng, dễ dàng cập nhật, cung cấp nhanh chóng, thuận tiện cho người sử dụng. Công nghệ 3S gồm GPS, RS, GIS đã và đang trở thành công cụ rất hữu hiệu trong trắc địa và bản đồ để nghiên cứu điều kiện tài nguyên, môi trường và giải quyết nhiều vấn đề của đời sống xã hội.
Thông tin trắc địa và bản đồ được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau. Trong thực tế cuộc sống, hầu như không có lĩnh vực nào của đời sống xã hội không sử dụng đến bản đồ, từ quản lý nhà nước tới quản lý kinh tế, từ phát triển kinh tế - 9 xã hội tới bảo đảm quốc phòng – an ninh, từ nghiên cứu khoa học tới nâng cao dân trí. Việc điều tra và quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đánh giá và giám sát môi trường, phòng chống thiên tai, quy hoạch phát triển, quản lý lãnh thổ, dự báo phát triển kinh tế đều được thực hiện trên cơ sở hệ thống thông tin địa lý. Bên cạnh công tác trắc địa và bản đồ cơ bản do cơ quan đo đạc và bản đồ quốc gia thực hiện, công tác trắc địa và bản đồ chuyên ngành do các Bộ, ngành và địa phương thực hiện.
Nhiều nhu cầu về trắc địa và bản đồ phục vụ phát triển kinh tế, nhu cầu đời sống hàng ngày của người dân đã được xã hội hóa, do các công ty từ các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước thực hiện. Đo đạc và bản đồ phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tế Sản phẩm bản đồ địa hình cơ bản được đưa vào sử dụng cho công tác phân vùng quy hoạch ở Việt Nam từ những năm 60 của thế kỷ XX. Năm 1973, tư tưởng lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất đã được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng nêu ra với mục tiêu hoàn thiện công tác kế hoạch hóa và xây dựng kế hoạch dài hạn phát triển nền kinh tế sau chiến tranh và nhiệm vụ lập Tổng sơ đồ được giao cho Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, sau đó giao cho Ủy ban phân vùng kinh tế Trung ương tiến hành và được nhà nước tổ chức triển khai với quy mô lớn theo một chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp nhà nước mã số 70.01 “Lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời kỳ 1986-2000”. Trong suốt kế hoạch 5 năm 1981-1985 chương trình 70.01 đã được thực hiện với sự tham gia rộng rãi của các ngành, các tỉnh, các nhà khoa học và sự giúp đỡ trực tiếp của các chuyên gia cao cấp của Liờn Xụ (cũ).
Sản phẩm bản đồ đã được sử dụng rộng rãi và những người làm công tác bản đồ của Cục Đo đạc và Bản đồ - Phủ Thủ tướng (sau đó là Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước) và các Bộ, ngành đã tham gia rất tích cực và công tác này. Chương trình 70.