Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬT LÍ CỦA HỌC SINH 1. Năng lực và dạy học phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực - Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép còn người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể [15].
- Năng lực cốt lõi: là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả. Năng lực cốt lõi gồm năng lực chung và năng lực đặc thù. + Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; + Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất. + Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh.
Dạy học Vật lí phát triển năng lực của học sinh Chương trình môn Vật lí mới giúp học sinh có những kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ vật lí; năng lượng và sóng; lực và trường; vận dụng được một số kĩ năng tiến trình khoa học để khám phá, giải quyết vấn đề dưới góc độ vật lí; vận dụng được một số kiến thức, kĩ năng trong thực tiễn, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường; nhận biết được năng lực, sở 6 trường của bản thân, định hướng được nghề nghiệp và có kế hoạch học tập, rèn luyện đáp ứng yêu cầu của định hướng nghề nghiệp [6]. Mục tiêu xuyên suốt của môn Vật lí THPT là góp phần thực hiện mục tiêu giáp dục phổ thông về hình thành phẩm chất và năng lực của người học,đồng thời kế thừa và phát triền kết quả giáo dục ở bậc Trung học cơ sở, đồng thời chuẩn bị cho học sinh học lên hoặc tham gia lao động sản xuất. Môn Vật lí nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất và năng lực chung (năng lực tự chủ và tự học; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo) cũng như các năng lực đặc thù (năng lực ngôn ngữ vật lí; năng lực tính toán trong vật lí, năng lực vật lí. Cùng với việc hình thành và phát triển năng lực, môn Vật lí còn giúp học sinh nhận biết đúng được một số năng khiếu, sở trường của bản thân và lựa chọn được một số ngành nghề liên quan đến lĩnh vực và môn học đề cập [8].
Những yêu cầu của dạy học vật lí phát triển năng lực học sinh a. Đối tượng nhận thức của Vật lí ở Trung học phổ thông [4] − Các sự vật, hiện tượng, quá trình tự nhiên dưới góc độ vật lí. − Những ứng dụng kĩ thuật dựa trên nền tảng kiến thức khoa học vật lí đang mang lại những lợi ích lớn lao cho con người và sự phát triển nền văn minh nhân loại. − Các sự vật, hiện tượng, quá trình thuộc các lĩnh vực nghiên cứu của khoa học khác (hóa học, sinh học, địa lí tự nhiên) với sự hỗ trợ của kiến thức vật lí ở trung học phổ thông được hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn.
Đặc điểm môn Vật lí ở Trung học phổ thông [15] Nội dung của môn Vật lí Trung học phổ thông chủ yếu là các kiến thức vật lí cổ điển, đó cũng là những kiến thức để học tốt các môn học khác. Vật lí cổ điển cũng là cơ sở khoa học của đại bộ phận các ngành sản xuất phổ biến ở nước ta hiện nay. Bên cạnh các kiến thức cổ điển, một số kiến thức vật lí hiện đại cũng được đề cập đặc biệt là kiến thức về Điện học, Vật lí nguyên tử và hạt nhân. Bên cạnh việc nghiên cứu các hiện tượng, quy luật vật lí theo con đường thực nghiệm, môn Vật lí ở Trung học phổ thông còn coi trọng cả việc thiết lập mối quan hệ giữa các hiện tượng, quy luật vật lí theo con đường lí thuyết.
Môn Vật lí coi trong các phương pháp nhận thức đặc thù của môn vật lí như: phương pháp thực nghiệm, phương 7 pháp mô hình,. đây cũng chính là các phương pháp tạo cơ hội để phát triển năng lực giải quyết vấn đề và năng lực vật lí. Yêu cầu khi thiết kế và tổ chức dạy học vật lí phát triển năng lực [15] − Những năng lực ở người học cần được xác định một cách rõ ràng. Chúng được xem là tiêu chuẩn đánh giá kết quả giáo dục.
Mục tiêu dạy học cần diễn đạt một cách tường minh các chỉ số hành vi của các năng lực thành tố của năng lực cần bồi dưỡng và phát triển ở học sinh.Các chỉ số hành vi này được cụ thể hóa từ bảng cấu trúc năng lực. − Cần tổ chức cho được một chuỗi các hoạt động tìm tòi khám phá,gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành,ứng dụng trong thực tiễn nhằm đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn, hướng nghiệp và phát triển, đáp ứng các mục tiêu năng lực đã được xác định. − Tăng cường việc học tập theo nhóm, cộng tác, chia sẻ nhằm phát triển nhóm năng lực xã hội. − Cần tăng cường đánh giá quá trình.
Đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức làm trung tâm, mà cần chú trọng đánh giá khả năng vận dụng một cách sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau của vật lí. Đánh giá quá trình được thực hiện trong khi học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập. Các lưu ý khi thiết kế tiến trình dạy học vật lí phát triển năng lực [15] - Mục tiêu học cần được thể hiện cụ thể qua các mục tiêu của hoạt động học. Mục tiêu của hoạt động học sẽ giúp giáo viên định hướng tốt các hoạt động học cũng như đánh giá việc thực hiện mục tiêu của học sinh.
- Với các mục tiêu đòi hỏi sự tự lực và hoàn thiện (chất lượng) của hành vi thì mục tiêu học bao giờ cũng được xác định ở mức độ cao nhất. Trong quá trình học, tùy thuộc vào sự đáp ứng của người học với nhiệm vụ được giáo mà giáo viên sẽ đưa đến những trợ giúp hoặc thu hẹp phạm vi tìm tòi giao cho học sinh. Khi đó, các tiêu chí chất lượng của hành vi sẽ được hạ xuống mức thấp hơn, tương ứng với việc đạt được hành vi ở mức độ thấp hơn trong bảng cấu trúc năng lực. - Với các mục tiêu liên quan tới số lượng các hành vi cần thực hiện tương ứng với mức độ phức tạp của nhiệm vụ thì mục tiêu học không nhất thiết phải xác định ở 8 mức độ cao nhất.
Việc đạt được số lượng các hành vi nhiều hay ít cho phép phân mức tiêu chí chất lượng của hành vi. - Không phải với mục tiêu bồi dưỡng một năng lực xác định nào đó thì toàn bộ các chỉ số hành vi của các năng lực thành tố của nó phải thể hiện qua các hoạt động học mà có thể chỉ có một số các chỉ số hành vi của các năng lực thành tố được thực hiện. - Mục tiêu bài học có thể nhằm đến một số các biểu hiện hành vi của các năng lực thành tố của các năng lực khác nhau. Trong quá trình bồi dưỡng và phát triển một năng lực xác định nào đó có thể kéo theo một số chỉ số hành vi của các năng lực khác cũng sẽ được bồi dưỡng và phát triển.
Năng lực vật lí 1. Khái niệm Năng lực vật lí hay năng lực khoa học là: [15] - Kiến thức khoa học của một cá nhân và sử dụng kiến thức khoa học đó để nhận biết các câu hỏi, tiếp thu kiến thức mới, giải thích các hiện tượng khoa học rút ra các kết luận có vấn đề; - Nhận dạng được vấn đề và rút ra được kết luận cơ sở về các vấn đề liên quan tới khoa học; - Hiểu biết của cá nhân về đặc điểm đặc trưng của khoa học; - Nhận thức của cá nhân đó về những ảnh hưởng của khoa học và công nghệ tới đời sống, vật chất, tinh thần và văn hóa của con người; - Sự sẵn sàng tham gia vào các vấn đề liên quan tới khoa học với tư cách là một công dân có hiểu biết và tư duy khoa học. Như vậy, theo quan điểm này, một người có năng lực khoa học cần phải có các yếu tố sau: - Có kiến thức khoa học. - Hiểu những đặc tính của khoa học là hoạt động tìm tòi khám phá của con người.
- Sử dụng kiến thức để xác định, chiến lĩnh kiến thức mới, nhận ra được các vấn đề khoa học, giải thích hiện tượng khoa học và rút ra kết luận trên cơ sở chứng cứ về vấn đề liên quan tới khoa học. - Nhận thức được vai trò của khoa học và công nghệ đối với việc hình thành môi trường văn hóa, tinh thần, vật chất. 9 - Sẵn sàng tham gia như một công dân tích cự,vận dụng hiểu biết khoa học vào giải quyết các vấn đề liên quan. Với môn Vật lí, kiến thức khoa học ở đây là kiến thức vật lí và kiến thức của một số các môn học có liên quan.
Biểu hiện của năng lực Vật lí Môn Vật lí hình thành và phát triển ở học sinh năng lực vật lí, với những biểu hiện cụ thể sau đây: [8] a) Nhận thức vật lí Nhận thức được kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ vật lí; năng lượng và sóng; lực và trường; nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến vật lí. b) Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí Thực hiện được hoạt động tìm hiểu được một số hiện tượng, quá trình vật lí đơn giản, gần gũi trong đời sống và trong thế giới tự nhiên theo tiến trình; sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra các dự đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra các kết luận.