CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Khái niệm năng lực toán học hóa tình huống thực tiễn 1. Khái niệm năng lực, năng lực toán học 1. Khái niệm về năng lực Thông thường, trong hoàn cảnh, điều kiện tương đương với nhau, một người được đánh giá là có “năng lực” nếu những kiến thức, kĩ xảo, kĩ năng của họ cao hơn mức độ trung bình của những người khác khi cùng thực hiện hoạt động.
Có 5 cấp độ của trình độ năng lực: Sơ đồ 1. Các cấp độ của năng lực 6 Dưới đây là biểu hiện cụ thể về kiến thức, kĩ năng của các trình độ năng lực Bảng 1. Bảng biểu thị các kiến thức, kĩ năng các cấp độ của trình độ năng lực 7 1. Khái niệm về năng lực toán học Theo quan điểm của V.
Krutecxki [14] thì có hai khía cạnh để làm rõ khái niệm năng lực toán học: Sơ đồ 1. Hai khía cạnh về khái niệm năng lực theo V. Krutecxki Như vậy, năng lực.toán học là các đặc.nhân (đặc biệt là các.đặc điểm về hoạt.cầu của hoạt.toán và trong các điều kiện như nhau, năng lực toán học sẽ tạo điều.kiện cho người học dễ dàng và nhanh chóng lĩnh hội.xảo, kĩ năng cần thiết. Khái niệm năng lực toán học hóa tình huống thực tiễn 1.
Khái niệm toán học hóa Về khái niệm toán học hóa có nhiều quan điểm phân tích khác nhau, trong đó có ba quan điểm nổi bật như sau: Quan điểm thứ nhất, theo tác giả Freudenthal cho rằng: “Toán học có quan hệ mật thiết với thực tế và toán học là kết quả hoạt động của con người” 8 [18], [19]. Vì vậy, việc tiếp nhận kiến thức có sẵn không phải là học toán mà là quá trình xuất phát từ các vấn đề thực tiễn hay xuất phát ngay từ trong toán học, sau đó người học thiết lập và giải quyết vấn đề đó rồi đi đến kết quả thiết lập lại kiến thức toán. Ta gọi quá trình này là “toán học hóa” (mathematisation). Nói cách khác, học toán gắn với thực tiễn chính là thực hiện quá trình toán học hóa vì sự liên hệ mật thiết giữa toán học với thực tiễn cuộc sống.
Thứ hai, Stillman, Galbraith, Brown và Edwards đã trình bày khái niệm này rõ ràng hơn bằng cách phân biệt hai hình thức khác nhau của toán học hóa đó là toán học hóa theo chiều ngang và chiều dọc [15]. Toán học hóa theo chiều ngang chỉ quá trình mô tả một vấn đề thực tế theo ngôn ngữ toán học để có thể giải quyết vấn đề đó với công cụ toán. Trong trường hợp này, toán học hóa là hoạt động chuyển đổi từ thế giới thực vào thế giới toán học. Quá trình xảy ra trong nội bộ thế giới toán học được gọi là toán học hóa theo chiều dọc.
Thông qua quá trình này, HS đạt được một trình độ toán học cao hơn. Như vậy, theo quan điểm này, quá trình toán học hóa xảy ra không chỉ khi giải quyết một vấn đề thực tế mà ngay cả khi giải quyết một vấn đề toán học, nhằm khám phá các cấu trúc toán học. Các tình huống thực tế chỉ đóng vai trò là môi trường tạo động cơ hoặc minh họa cho sự xuất hiện các kiến thức toán. Trong quá trình mô hình hóa, thực tế và toán học thường được xem như hai thế giới riêng biệt và có một số bước biến đổi giữa hai môi trường này cũng như trong mỗi môi trường để giải quyết tình huống đặt ra.
Theo Blum, Galbraith và Niss [19] thì bước biến đổi từ mô hình thực tế sang mô hình toán học trong quá trình mô hình hóa được gọi là toán học hóa. Theo quan điểm này thì toán học hóa là một giai đoạn của quá trình mô hình hóa. Toán học hóa trong quá trình mô hình hóa (Nguồn: Quá trình mô hình hóa của Blum (2006)) Khi chuyển sang giai đoạn toán học hóa, tình huống thực tế đã được lý tưởng hóa, HS chỉ cần chuyển đổi các đối tượng và quan hệ ngoài toán thành các đối tượng và quan hệ toán học, chuyển đổi câu hỏi đặt ra trong tình huống thực tế sang câu hỏi toán học, mục tiêu là biểu diễn mô hình thực tế bằng ngôn ngữ toán học. Nói cách khác, toán học hóa theo quan điểm này là một giai đoạn gắn liền với quá trình mô hình hóa nhằm biểu diễn hoặc giải thích mô hình thực tế bằng các phương tiện và công cụ của toán học.
Thứ ba, theo Chương trình đánh giá HS quốc tế (The Programme for International Student Assessment) – PISA, khái niệm toán học hóa (mathematisation) được mô tả là quá trình cơ bản mà HS sử dụng các kiến thức, kĩ năng toán học tích lũy được từ trường học cùng với kinh nghiệm sống để giải quyết các vấn đề thực tế. Quá trình toán học hóa bao gồm 5 bước, thể hiện trong sơ đồ sau đây: 10 Sơ đồ 1. Quá trình toán học hóa theo PISA GV cần lựa chọn tình huống thực tế sao cho phù hợp với kiến thức HS lớp 10 (bao gồm phù hợp cả nội dung các môn khác nếu có), tình huống khi chuyển sang bài toán toán học phải chứa đựng kiến thức của Bất phương trình và hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn. GV cần hướng dẫn HS xác định các yếu tố cần thiết, mối quan hệ giữa chúng, loại bỏ tham số phụ.
GV định hướng HS xác định thông tin bài toán gồm: giả thiết bài toán là gì? Yêu cầu bài toán là gì? Những đại lượng nào được nhắc đến trong bài toán? Bài toán được xây dựng là bài toán thuần túy toán học: Toán học hóa các 11 đại lượng và các mối quan hệ đó: chuyển bài toán với những ngôn ngữ, dữ kiện thực tiễn thành bài toán thuần túy toán học. Sau đó thông qua các biểu thức, phương trình, hệ phương trình, bất phương trình, hệ bất phương trình,… để thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố đó trong bài toán thực tiễn.quyết bài toán: sử dụng.toán học vào.giải bài toán. Như vậy, toán học hóa theo quan điểm của PISA là toàn bộ quá trình mô hình hóa, hay nói cách khác mô hình hóa là một giai đoạn của quá trình toán học hóa. Trong phạm vi luận văn này, tôi quan tâm khái niệm toán học hóa theo quan điểm thứ ba, đó là toán học hóa bao gồm cả quá trình mô hình hóa.thực tiễn và bài.dung thực tiễn Theo Nguyễn Bá Kim [7, tr.huống là một.hệ thống phức.tạp bao gồm.chủ thể và khách thể, trong đó chủ.thể có thể là.người còn khách thể là.một hệ thống nào đó; Một tình huống mà.khách thể tồn tại.chưa biết, được gọi là tình.huống bài toán.đối với chủ thể; Đứng trước.huống, chủ thể.đặt ra mục.tử chưa biết, dựa.tử khác của.khách thể thì.toán đối với.
Một bài toán có phần giả thiết, phần đã cho hoặc phần cần đi tìm có chứa các nội dung liên quan đến thực tiễn được gọi là bài toán có nội dung thực tiễn. Các tình huống trong cuộc sống, các sự việc xảy ra trong cuộc sống hay các tình huống xảy ra trong nội bộ các môn học khác như : Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ,… đều được coi là yếu tố “thực tiễn”. Vai trò của bài toán có nội dung thực tiễn 1.tiễn Trong giảng dạy thực tế với HS, ngoài việc GV đưa kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo thì việc HS tự trang bị vốn văn hóa khác ngoài toán học cũng là yếu tố then chốt để đưa được toán học vào thực tiễn. Vì thế, việc xây dựng mô hình toán học cho các tình huống thực tiễn là yếu tố chủ chốt cho hoạt động toán học hóa tình huống thực tiễn.
Thông qua hoạt động toán học hóa và yếu tố quan 14 trọng là vốn văn hóa, hiểu biết của HS THPT về các vấn đề xã hội thì năng lực toán học hóa tình huống thực tiễn của HS được hình thành và phát triển một cách mạnh mẽ. Dựa trên các nghiên cứu đi trước, quá trình thực tiễn giảng dạy, tham khảo thêm ý kiến các chuyên gia và các GV, tác giả đề xuất các thành tố của năng lực toán học hóa hóa tình huống thực tiễn của HS THPT bao gồm: Sơ đồ 1. Các thành tố của năng lực toán học hóa tình huống thực tiễn - Khả năng quan sát tình huống thực tiễn: HS rèn luyện khả năng quan sát các tình huống thực tiễn, thu nhận tất cả các thông tin có trong tình huống 15 thực tiễn (HS có thể gạch chân vào các từ khóa, các thông tin quan trọng trong tình huống thực tiễn). - Khả năng liên tưởng, kết nối các ý tưởng toán học với các yếu tố thực tiễn: từ việc quan sát và thu nhận các thông tin có trong các tình huống thực tiễn, HS chọn lọc, thu nhận các thông tin có các yếu tố toán học và liên tưởng, kết nối các thông tin đó đến các ý tưởng toán học hoặc kết quả toán học đang hướng đến.
- Khả năng ước tính, dự đoán các kết quả của tình huống thực tiễn: từ việc thu nhận và phân tích các thông tin có trong thực tiễn, HS đưa ra các dự đoán, các ước tính về kết quả có thể xảy ra của tình huống thực tiễn; phân tích, làm rõ các kết quả đó. - Khả năng sử dụng ngôn ngữ toán học: ngoài việc diễn đạt tình huống thực tiễn bằng ngôn ngữ tự nhiên, HS biết cách sử dụng ngôn ngữ toán học (các kí hiệu, từ khóa, định lý toán học) để chuyển đổi từ ngôn ngữ tự nhiên sang ngôn ngữ toán học và ngược lại, sau khi có kết quả bài toán theo ngôn ngữ toán học, HS chuyển đổi được kết quả đó về ngôn ngữ tự nhiên để trả lời được vấn đề mà tình huống thực tiễn đưa ra. - Khả năng phát hiện ra quy luật của tình huống thực tiễn: HS phân tích các giả thiết, các yếu tố mà tình huống thực tiễn đã cho, từ đó có đưa ra quy luật, mô hình của bài toán thực tiễn. - Khả năng biểu diễn các yếu tố thực tế bằng kí hiệu, khái niệm toán học: từ việc phân tích các giả thiết, các yếu tố thực tế mà tình huống thực tiễn đưa ra, HS chuyển các giả thiết, các yếu tố đó về các kí hiệu hoặc khái niệm toán 16 học; kết hợp với quy luật của tình huống để xây dựng mô hình toán học hoàn chỉnh cho tình huống.