CHƯƠNG I: PHÁT TRIỂN TƯ DUY VÀ NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ. PHÁT TRIỂN TƯ DUY CỦA HỌC SINH 1. Tư duy Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động c ủa tinh thần, đem những cảm giác sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua ho ạt đ ộng v ật chất, làm cho con người có nhận thức đúng đắn về sự vật xung quanh đồng thời có cách ứng xử với nó, là sự phản ánh quá trình nhận thức ở trình đ ộ cao, sự nhận thức một cách khái quát, tích cực, gián tiếp và sáng tạo về thế giới qua các khái niệm, phán đoán. Tư duy có khả năng khái quát hóa sự trừu tượng vì t ư duy m ới có th ể khái quát bản chất, quy luật của các sự việc, hiện tượng.
Do đó, t ư duy mang đ ến cho con người những tri thức về thế giới và các sự vật, hi ện t ượng trong th ế giới một cách gián tiếp. Tư duy là một quá trình sáng tạo giúp con ng ười h ọc h ỏi, rèn luy ện đ ể có tri thức biết nhận biết vấn đề và cách giải quyết những vấn đề đó. Nói chung, tư duy của não bộ vận hành với những kỹ năng học được có th ể giúp trí thông minh được nuôi dưỡng và phát triển mà ở đó con ng ười dùng suy nghĩ, xem xét, giải quyết những sự vật, hiện tượng trong cuộc sống.Tư duy kinh nghiệm. Tư duy kinh nghiệm là một giai đoạn của nhận thức lý tính, mà trong đó người ta rút ra những tri thức về sự vật, hiện tượng khách quan, ch ủ y ếu, thông qua con đường khái quát, quy nạp những tài liệu kinh nghiệm.
Tư duy 5 kinh nghiệm được hình thành một cách trực tiếp trong quá trình ho ạt đ ộng thực tiễn của chủ thể nhằm mục đích cải biến khách thể. Nó thường phản ánh những thuộc tính, tính chất của các đối tượng có tác động trực ti ếp t ới chủ thể. Đối tượng phản ánh của nó là những thuộc tính, tính ch ất c ủa khách thể hiện thực; ngược lại, đối tượng của tư duy lý luận là những khách th ể trừu tượng. Sự khác nhau về mặt đối tượng được xem là dấu hiệu căn bản để phân biệt hai giai đoạn kinh nghiệm và lý luận trong nhận thức.
Là những cấp độ khác nhau của cùng một quá trình nh ận th ức lý tính, nhưng tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận không đối lập, tách r ời nhau mà thống nhất với nhau qua hoạt động thực tiễn V.I Lênin đã từng khẳng định: “Muốn hiểu biết thì phải bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu từ kinh nghi ệm, t ừ kinh nghiệm mà đi đến cái chung”. Tư duy lý luận là quá trình con người phản ánh hiện th ực khách quan m ột cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật. Ở đó, chủ thể nhận thức sử dụng ngôn ngữ và các thao tác tư duy để nắm bắt các mối liên hệ mang tính bản chất, tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận thức của con người. Tư duy lý luận có những đặc trưng cơ bản sau: M ột, s ự xu ất hi ện c ủa t ư duy lý luận gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người.
Cùng với sự phát triển của sản xuất, của trao đổi và các mối quan hệ xã h ội khác, các hành động và thao tác trí óc của con người ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp hơn, nhờ đó tư duy lý luận từng bước xuất hiện và phát tri ển năng l ực của mình. Hai, tư duy lý luận phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, là sự sản sinh ra những tri thức mới trên cơ sở những tri thức kinh nghiệm đã tích lũy được trong quá trình nhận thức. Nh ững tri th ức lý lu ận được duy trì và hoạt động thông qua hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật lôgic. Ba, tư duy lý luận sử dụng các phương pháp nhận thức, như: lịch sử và lôgic; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch; trừu tượng hóa và c ụ th ể hóa v.v… và làm cho các phương pháp này trở thành nội dung lôgic bên trong 6 của sự vận động tri thức để nhận thức hiện thực khách quan.
Bốn, đ ối t ượng mới của tư duy lý luận là những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra. Tư duy lý luận phải có nhiệm vụ trả lời những câu hỏi - đặc biệt là nh ững v ấn đ ề b ức xúc mà cuộc sống đặt ra cho con người và xã hội loài người. So với tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận đóng m ột vai trò h ết s ức to l ớn trong nhận thức và cải tạo thế giới. Nhờ có tư duy lý luận khoa học mà con người mới phát hiện ra được các quy luật vận động và phát tri ển c ủa hi ện thực khách quan, hướng sự vận động đó vào phục vụ lợi ích của con người.
Ăngghen chỉ rõ rằng: “Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao c ủa khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”. Tư duy lý luận có thể là khoa học nhưng cũng có th ể không khoa h ọc. Ch ỉ những tri thức lý luận nào phản ánh đúng bản chất, vạch ra đ ược m ối liên h ệ giữa các sự vật, hiện tượng; chỉ ra được quy luật, xu hướng vận động, phát triển v.v…của hiện thực khách quan (của tự nhiên, xã hội) thì đó mới là t ư duy lý luận khoa học. Tư duy logic Logic còn được biết đến với cái tên lý luận học.
Đây là t ừ dùng đ ể miêu tả cách lập luận, suy nghĩ và lý trí minh mẫn của con người. Tư duy logic là hoạt động tư duy, suy luận của não bộ con người nhằm giải quyết một vấn đề nào đó và để đạt được một mục đích cụ thể. Từ tư duy logic mà con người có thể nhận ra các điểm liên quan, suy luận và s ắp xếp các sự vật, hiện tượng theo thứ tự liên quan phù hợp với nhau, tạo ra một kế hoạch phù hợp và có khả năng thực thi cao nhất. Bản thân con người sinh ra đã có tư duy.
Có th ể nói h ọc cách t ư duy logic là khả năng thiên bẩm của con người và giúp con người tách khỏi thế gi ới động vật nguyên thủy ban đầu. Bản thân động vật có thể hành động là nhờ bản năng còn con người hoạt động là do có tính tự giác và tư duy. Từ chính cuộc sống hằng ngày đã thấy được não bộ luôn không ngừng học cách tư duy. Khi bắt đầu bất cứ công việc gì con người đầu tiên là lên k ế hoạch.
Bước lên kế hoạch, dự định đó để sao có hiệu quả cao nhất đó chính 7 là cách rèn luyện tư duy logic đơn giản nhất. Hay nói dễ hiểu hơn nữa thì muốn rèn luyện t ư duy logic c ần đ ưa vào trí não ba điều gồm: - Các thông tin về vấn đề. - Các suy nghĩ xoay quanh vấn đề đó và một hay nhiều ý tưởng. - Từ những ý tưởng đó đưa ra suy nghĩ sâu để giải quyết vấn đề.
Tư duy logic đóng một vai trò quan trọng và cần thiết từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc quá trình học tập của người h ọc. Nó là y ếu t ố n ền t ảng cho việc phát triển não bộ toàn diện, tăng khả năng sáng tạo và kỹ năng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Nếu các em có được những khả năng và k ỹ năng quan trọng này thì việc học sẽ trở nên dễ dàng, thoải mái, chủ động và ham học hơn. Tư duy vật lý là sự năng quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những mối liên hệ và những sự phụ thuộc nhất định, tìm ra những mối liên hệ giữa các mặt định tính và mặt định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lí, đoán trước các hệ quả mới từ các lí thuyết và áp dụng những kiến thức khái quát thu được từ thực tiễn.
Tư duy biện chứng Tư duy biện chứng là một hệ thống các nguyên tắc, các yêu c ầu n ền t ảng được rút ra từ phép biện chứng mà trước hết là biện chứng của tư duy. T ư duy phải tuân thủ các nguyên tắc: nguyên tắc khách quan (khách quan xem xét), nguyên tắc toàn diện (toàn diện xem xét), nguyên tắc phát triển, nguyên tắc mâu thuẫn, nguyên tắc phân tích lượng và chất… Nh ững nguyên t ắc, yêu cầu, phương pháp được rút ra từ phép biện chứng nói chung và phép bi ện chứng tư duy nói riêng. Tư duy biện chứng là một số yêu cầu mang tính phương pháp luận điều phối suy nghĩ của chúng ta và sau đó là hành động của chúng ta để đưa suy nghĩ của chúng ta đến chân lý. 8 Tư duy biện chứng phát triển từ trình độ thấp lên trình độ cao và phép biện chứng của tư duy cũng phát triển từ chất phác, hời hợt sang ngày càng sâu sắc hơn.
Vì vậy chúng làm cho nhau cùng hoàn thiện. PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 2.1 Khái niệm về năng lực và năng lực sáng tạo của học sinh 2.1 Khái niệm về năng lực Theo từ điển tiếng việt thông dụng: “Năng lực là kh ả năng làm t ốt công việc’’. Trong tâm lý học người ta coi năng lực là những thuộc tính tâm lý riêng của cá nhân, nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành t ốt đ ẹp m ột loạt hoạt động nào đó, mặc dù phải bỏ ra ít sức lao đ ộng. Ng ười có năng l ực về một mặt nào đó thì không phải nỗ lực nhiều trong quá trình công tác mà vẫn khắc phục được những khó khăn một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn những người khác hoặc có thể vượt qua khó khăn mới mà nhiều người khác không thể vượt qua được.
Theo các nhà tâm lí học, năng lực chính là khả năng thực hiện một hành động nào đó trong một thời gian nh ất đ ịnh nh ờ nh ững điều kiện nhất định và tri thức tiểu xảo đã có. Năng lực chứa đ ựng y ếu t ố mới mẻ linh hoạt, có thể giải quyết nhiệm vụ thành công trong nhi ều tình huống khác nhau, trong một lĩnh vực hoạt động rộng hơn.