Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài 4 Chương 2: Các biện pháp dạy học phát triển năng lực mô hình hoá toán học cho học sinh lớp 11 THPT thông qua dạy học chủ đề hàm số mũ và logarit. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. Phần kết luận và kiến nghị: Trình bày những kết luận rút ra trong quá trình nghiên cứu cũng như thực nghiệm và nêu một số ý kiến đề xuất. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Cơ sở lý luận của đề tài 1. Năng lực, cấu trúc năng lực, cấu trúc của năng lực toán học 1. Năng lực "Từ "năng lực", xuất phát từ tiếng Latin "competentia" có nghĩa là "gặp gỡ", đồng nghĩa với việc đối mặt và đáp ứng được các thách thức, tình huống khác nhau. Trong tiếng Anh, khái niệm "năng lực" được biểu hiện qua nhiều thuật ngữ như capability, ability, competency, capacity.
Theo từ điển tiếng Việt, năng lực được định nghĩa là khả năng hoặc điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên để thực hiện một hoạt động cụ thể. Nó có thể là phẩm chất tâm lý, sinh lý, tạo điều kiện cho con người hoàn thành một loại hoạt động với chất lượng cao [10, tr. Có nhiều định nghĩa về năng lực. Theo Chouhan & Srivastava (2014) cho rằng: “Năng lực bao gồm tập hợp các yếu tố thành công cần thiết để đạt được kết quả quan trọng trong một công việc cụ thể hoặc của một vai trò công việc trong một tổ chức cụ thể”.59] Theo Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998) cho rằng: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”.66] Theo chương trình GDPT tổng thể năm (2018) : “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quả trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”.[1] Trong luận văn này chúng tôi đồng quan điểm về năng lực với chương trình GDPT tổng thể năm 2018. Cấu trúc năng lực 6 Mặc dù cách trình bày về khái niệm NL có khác nhau nhưng phần lớn các tài liệu trong nước và nước ngoài đều hiểu NL là sự tích hợp của nhiều thành tố như tri thức, kĩ năng, niềm tin, sự sẵn sàng hoạt động. Có thể hiểu đó là hướng tiếp cận cấu trúc của NL theo nguồn lực hợp thành. Weinert cho rằng NL gồm ba yếu tố cấu thành là khả năng, kĩ năng và thái độ sẵn sàng tham gia hoạt động của cá nhân.
Có thể thấy mô hình cấu trúc của F. Weinert thiếu thành tố “tri thức”; và xem “khả năng” như một thành tố của NL bên cạnh “kĩ năng” là không thuyết phục.87] Chương trình GDTH của bang Québec tuy không khẳng định kiến thức, kĩ năng, thái độ là những yếu tố trực tiếp cấu thành NL, nhưng xem đó là những thành tố của nguồn lực được sử dụng để tạo ra NL: “NL có thể định nghĩa là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những nguồn lực này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn lực bên ngoài, chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy giáo, cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác” [Dẫn theo 12, tr. thành Thực ra, việc huy động những nguồn lực bên ngoài (bạn cùng lớp, thầy giáo, cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác) không thể xem là một thành tố của NL.
Đúng hơn, nên coi đó là sự thể hiện của NL hợp tác, NL huy động những nguồn thông tin mới để giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống của HS. Cả hai quan điểm trên đều được thể hiện trong các tài liệu ở Việt Nam, với những sự điều chỉnh nhất định. Gần với ý kiến của F. Weinert, Đặng Thành Hưng cho rằng NL gồm ba thành tố cơ bản là tri thức, kĩ năng và hành vi biểu cảm (thái độ), trong đó “yếu tố cốt lõi trong bất cứ NL cụ thể nào đều là kĩ năng (hoặc những kĩ năng).
Những thứ khác trong NL như tri thức, thái độ, tình cảm, tâm vận động, sức khỏe. cũng rất quan trọng, song thiếu kĩ năng thì chúng trở nên kém giá trị mặc dù không phải hoàn toàn vô dụng” [3, tr. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, năm 2011 của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (KHGDVN) do Lương Việt Thái làm chủ nhiệm cũng khẳng định: “NL được cấu 7 thành từ những bộ phận cơ bản: 1) Tri thức về lĩnh vực hoạt động hay quan hệ nào đó; 2) Kĩ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với (trong) quan hệ nào đó; 3) Những điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện tri thức, kĩ năng đó trong một cơ cấu thống nhất và theo một định hướng rõ ràng, chẳng hạn ý chí - động cơ, tình cảm - thái độ đối với nhiệm vụ, hoặc nói chung là tính tích cực trí tuệ, tính tích cực giao tiếp, tính tích cực học tập…” [11, tr.20-21] Từ phân tích trên trong phạm vi đề tài cho rằng các yếu tố cấu thành năng lực bao gồm: Kiến thức: Kiến thức là yếu tố nền tảng của năng lực. Kiến thức giúp cá nhân hiểu được bản chất của vấn đề, từ đó có thể đưa ra các giải pháp phù hợp.
Kiến thức có thể được tiếp thu qua các hình thức khác nhau như học tập trên lớp, tự học, học hỏi từ kinh nghiệm của người khác. Kỹ năng Kỹ năng là khả năng thực hiện một hành động hoặc thao tác một cách thành thạo. Kỹ năng bao gồm kỹ năng cứng (hard skills) và kỹ năng mềm (soft skills). Kỹ năng cứng là những kỹ năng có thể đo lường và đánh giá được, ví dụ như kỹ năng sử dụng máy tính, kỹ năng lái xe,.
Kỹ năng mềm là những kỹ năng liên quan đến cách ứng xử, giao tiếp và làm việc với người khác, ví dụ như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lãnh đạo,. Thái độ: Thái độ là cách nhìn nhận, đánh giá và hành động của một người đối với một sự vật, hiện tượng nào đó. Thái độ tích cực sẽ giúp cá nhân có động lực, quyết tâm và nỗ lực để hoàn thành công việc. Thái độ có thể được rèn luyện thông qua giáo dục, mài dũa bản thân và sự trải nghiệm.
Khả năng: Khả năng có thể được định nghĩa là tiềm năng, năng lực, hay khả năng thực hiện một hành động hoặc nhiệm vụ nào đó. Khả năng có thể là bẩm sinh hoặc được phát triển thông qua học tập và rèn luyện. Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Kiến thức và kỹ năng là nền tảng để hình thành năng lực.
Thái độ tích cực sẽ giúp một người phát huy tối đa năng lực của mình. Khả năng là yếu tố tiềm ẩn, có thể được phát triển thông qua quá trình học tập, rèn luyện và trải nghiệm. Cấu trúc của năng lực toán học Tác giả Trần Luận (2011) cho rằng: Năng lực toán học là khả năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiến thức toán trong cuộc sống, khả năng vận dụng tư duy toán học để giải quyết thực tiễn, khả năng phân tích, suy luận…[6] Xu thế chung mà các nền giáo dục toán tiên tiến trên thế giới không chỉ đánh giá về kiến thức mà còn xem xét khả năng của học sinh trong việc áp dụng kiến thức và kinh nghiệm của mình vào giải quyết những vấn đề thực tiễn và có thể làm được những gì trên cơ sở những kiến thức đã học được. Cụ thể, chú trọng khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào thực tế và năng lực xử lý các tình huống học sinh sẽ gặp trong cuộc sống sau khi rời ghế nhà trường.
Để vận dụng kiến thức toán học vào việc giải quyết những tình huống thực tiễn, người ta phải toán học hóa tình huống đó, tức là, xây dựng một mô hình hóa toán học thích hợp cho phép tìm câu trả lời. Chính vì vậy, ngay từ giai đoạn học sinh phổ thông, giáo viên cần hình thành cho học sinh kĩ năng mô hình hóa thông qua dạy học Toán. Theo tác giả Blum và Jensen (2007) xác định năng lực như sự sẵn sàng sâu sắc tới hành động để đáp ứng với những thách thức của một tình huống nhất định, một khía cạnh quan trọng, đó là phát triển năng lực là một quá trình liên tục. Trong cuộc thảo luận, họ dứt khoát xây dựng và minh họa một tập hợp các năng lực toán học có thể được xem là kích thước độc lập kéo dài và mở rộng định nghĩa về năng lực toán học.
Các năng lực toán học đặt ra là: năng lực tư duy toán học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực đại diện, năng lực hình thức biểu tượng, năng lực giao tiếp, hỗ trợ, năng lực lý luận và năng lực mô hình hóa [16, tr. Năng lực toán học là khả năng (capacity) cá nhân để hình thành (formulate), vận dụng (employ) và diễn giải (interpret) toán học trong những ngữ cảnh khác nhau. Các khả năng này bao gồm lập luận một cách toán học và vận dụng các khái niệm, thủ tục, sự kiện và công cụ toán học để mô tả, giải thích và dự đoán các hiện tượng. Các khả năng này hỗ trợ cá nhân trong việc nhận diện vai trò của toán học trong cuộc sống và trong việc đưa ra các đánh giá có cơ sở, các quyết định cần thiết cho một công dân với các đặc tính xây dựng, dấn thân và suy nghĩ phê phán.Kruchetxki (1973), cấu trúc của năng lực toán học bao gồm: 9 - Thu nhận thông tin: Tri giác hóa tài liệu toán; nắm bắt cấu trúc của bài toán.
- Chế biến thông tin: Năng lực tư duy logic trong phạm vi quan hệ số lượng, quan hệ không gian, tư duy với các kí hiệu toán học. Năng lực khái quát hóa các đối tượng, các quan hệ, các cấu trúc; năng lực rút ngắn quá trình suy luận và tính toán. Tính mềm dẻo của quá trình tư duy trong hoạt động Toán. Khuynh hướng rõ ràng, giản đơn, tiết kiệm và hợp lí lời giải [5, tr.