CHƯƠNG 1: CO SÒ LÝ LUẬN CỦA ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu 1. Lịch sử nghiên cứu trong nước và thế giới 1. Trên thế giới Vào thế kỷ 20, bản chất xã hội của việc học tập và sự vận động được Dewey khám phá, giảng dạy thông qua thảo luận và thông qua giải quyết vấn đề thực hành. Elwin với khái niệm phụ thuộc lẫn nhau về xà hội và ý tưởng họp tác và cạnh tranh của Deutsch có thế được xem như là những hạt giống sớm của quá trình học tập họp tác.
Một số nhà nghiên cứu giáo dục đã chia sẻ quan điểm về họp tác trong giáo dục như sau: Alpert mô tả sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên khi ông nghiên cứu nhóm Dynamics và tâm lý xã hội và viết về những lý do đằng sau sự thành công và thất bại của các nhóm. Sự phát triển trí tuệ được Piaget nói như một thứ được nuôi dưỡng bởi sự tương tác xã hội. Vygotsky ủng hộ ý tưởng học tập như một quá trình xã hội. Theo lý thuyết của ông, chúng ta học đầu tiên từ những tương tác của chúng ta về mặt xã hội sau đó thực • hiện • đó cho bản thân cá nhân của mình.
• học • việc Theo Joseph s. Krajcik (2003), trong sự họp tác giữa học sinh với cộng đồng, học sinh làm việc với cha mẹ, hàng xóm, bạn bè, bà con, những “chuyên gia” mà các em biết qua thầy giới thiệu hoặc qua các phương tiện truyền thồng trong lĩnh vực học tập cần thiết., bàng cách gặp trực tiếp hoặc gián tiếp qua điện thoại, thư gửi qua đường bưu điện, thư điện tử,. để chia sẻ, học hỏi các thông tin nghiên cứu. Òng cũng đã giới thiệu rất nhiều dạng cùa sự họp tác này.
Ví dụ, học sinh có thể gọi điện đến một cơ quan nông nghiệp hoặc một nhà nông học để hỏi về một loại sâu, bướm mới được phát hiện; có thế hởi một nhà Thiên văn một thông tin nào đó về vũ trụ, trao đổi với một nhà Lịch sử cho một cuộc thi tim hiểu Lịch sử.thậm chí, các em có thể trao đối một vấn đề học tập với các nhà khoa học ngoài biên giới (điều này đã có ở nhiều sinh viên các nước tiên tiến). Nếu có một vị khách mời tới lóp học đề mô phong một khái niệm, thảo luận một vấn đề hay trả lời những câu hỏi của học sinh thì điều đó lại càng kích thích sự học tập của học sinh hơn. Vậy là, những thành viên trong cộng đồng có thể trở thành những cố vấn cho học sinh, họp tác với học sinh để giải quyết vấn đề. Đe mở rộng sự hợp tác ra khỏi bốn bức tường của lớp học.
ơ Việt Nam Liên quan đến đề tài này có một số nghiên cứu sau đây: - Một số biện pháp phát triển năng lực họp tác cho học sinh trong dạy học hóa học phần vô cơ lóp 11 THPT, luận văn thạc sĩ của Lê Thị Trinh trường Đại học Vinh năm 2015. Đề tài này đã nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm rèn luyện, phát huy năng lực họp tác cho HS thông qua việc dạy học hóa học phần vô cơ 11 THPT, góp phần thiết thực nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT. - Đánh giá năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học chương chuyền hóa vật chất và năng lượng - Sinh học 11 trung học phô thông, đề tài của Phan Thị Thanh Hội, Phan Huyền Phương - khoa Sinh trường Đại học sư phạm Hà Nội ( năm 2015). Đề tài này cho thấy hàu hết học sinh đều đã có sự phát triển năng lực họp tác 9 •ì thông qua việc rèn luyện qua các bài thực nghiệm, cụ thê ờ việc đánh giá tông họp các mức độ của mỗi kỹ năng tăng dần qua các đợt thí nghiệm và sự tăng này có ý nghĩa thông qua việc đánh giá độ tin cậy bàng phần mềm SPSS - Phát triến năng lực hợp tác cho học sinh qua dạy học chủ đề ứng dụng của đạo hàm, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Ngọc Linh trường Đại học quốc gia Hà nội, năm 2014.
Luận văn này đà góp phần làm sáng tỏ các quan niệm về họp tác, dạy và học họp tác, dạy học theo hướng phát triển năng lực hợp tác cho HS và đã làm rõ mối quan hệ giữa các khái niệm trên. Luận văn đã nêu được quan điểm về dạy học đạo hàm và các ứng dụng của đạo hàm. Vận dụng được một số vấn đề lý luận về dạy học theo hướng phát triển NLHT cho học sinh vào thực tế dạy học chủ đề “ứng dụng của đạo hàm”. Đánh giá được tình trạng dạy và học theo hướng phát triển NLHT, dạy và học chủ đề ứng dụng của đạo hàm ở trường PT Hermann Gmeiner Việt Tri.
Xây dựng và đề xuất một số biện pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực hợp tác cho học sinh THPT. - “Phát huy vai trò cá nhân của học sinh khi tổ chức dạy học họp tác ở trường trung học cơ sở” của tác giả Hoàng Lê Minh, tạp chí khoa học ( 2012), Đại học Sư phạm Hà Nội. Tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát huy vai trò cá nhân, từ đó đưa ra 5 biện pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò cá nhân HS trong DHHT. Bài báo góp phần tháo gờ những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi tố chức dạy học hợp tác.
7 * Các bài báo: - Dạy học hợp tác - một xu hướng mới của giáo dục thế kỷ XXL Tạp chí khoa học Đại học Sư phạm TP. Bài báo này nói về quá trình hình thành và HDHT, các khái niệm liên quan đến dạy học họp tác, những đặc trưng, ưu điếm và nhược điểm của DHHT, những kinh nghiệm đề dạy học hợp tác thành công. - Tố chức dạy học theo dự án trong dạy học “ lập trình hướng đối tượng” cho sinh viên cao đẳng nghề tin học ứng dụng tại trường Cao đẳng sư phạm Quảng Trị (7/2020) - Tố chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong dạy học công nghệ 8 theo hình thức dạy học dự án. Nhìn chung, các đề tài và bài báo trên đà đề cập đến việc phát triển năng lực người học, Dạy học dự án, phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học.
Tuy nhiên, hầu hết tài liệu trên đều nói về việc phát triển năng lực họp tác cho học sinh qua các môn học Địa, Lý, Hóa học, Tin học nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu việc phát triển năng lực họp tác cho học sinh qua phương pháp - kỹ thuật dạy học liên quan đến kiến thức chủ đề: “Nguyên tử - Nguyên tố hóa học - Sơ lược bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học” môn học KHTN 7 nói riêng và KHTN nói chung. Năng lực hợp tác trong giáo dục học sinh 1. Khái niệm Nàng lực họp tác [11] là khả năng của một cá nhân hoặc một tổ chức để làm việc cùng nhau hiệu quả trong một môi trường tập thế. Nó bao gồm khả năng hợp tác, giao tiếp, và làm việc đồng đội đế đạt được mục tiêu chung hoặc giải quyết các vấn đề phức tạp.
Nàng lực hợp tác cũng đòi hỏi sự linh hoạt, tôn trọng, và khả nàng thích nghi với các phong cách và quan điểm khác nhau. Tuckman và Jensen (1977): Bruce Tuckman và Mary Ann Jensen đã đề xuất mô hình "Forming-Storming-Norming-Performing-Adjourning" đế mô tả quá trình phát triến của một nhóm làm việc. Họ đã nhấn mạnh rằng sự hợp tác đúng cách là cần thiết để nhóm đạt được hiệu suất tốt nhất. Qua quá trình ’’norming” (định hình), nhóm phát triến quy tắc và giao tiếp hiệu quả đế làm việc cùng nhau.
Belbin (1981): Meredith Belbin, một nhà tâm lý học tổ chức, đã nghiên cứu về vai trò và năng lực của các thành viên trong nhóm làm việc. Òng đã đề xuất rằng để có sự hợp tác hiệu quả, mỗi thành viên trong nhóm nên đóng vai trò phù hợp dựa 8 trên khả năng và tính cách của họ, ví dụ như vai trò cùa "người lãnh đạo," "người sáng tạo," và "người thực hiện." Tichy và Cohen (1997): Noel M. Tichy và Ellen R. Cohen đã viết về khái niệm "vương quốc của tối ưu hóa," nơi sự hợp tác và tạo ra giá trị thông qua mối quan hệ xã hội trong tổ chức được coi trọng.
Họ đã khuyến nghị rằng tạo ra một môi trường hợp tác và khuyến khích sự tham gia của tất cả thành viên trong tổ chức có thể giúp cải thiện hiệu suất và sáng tạo. Như vậy, năng lực hợp tác là một yếu tố quan trọng trong thành công cúa cá nhân và tố chức. Sự hợp tác hiệu quả giúp tạo ra môi trường làm việc tích cực, thúc đẩy sự đóng góp của tất cả các thành viên và đảm bảo mục tiêu chung được đạt được một cách hiệu quả. Cấu trúc và các biếu hiện của Năng lực hợp tác * Cấu trúc của năng lực hợp tác Theo tài liệu tham khảo của nhà khoa học Gary w.
Dickson đề cập trong công trình nghiên cứu của ông vào năm 2000 tôi đúc rút được sơ đồ cấu trúc của năng lực hợp tác như sau: - Xác định mục đích hợp tác - Xác định nhiệm vụ chung của Chia sẻ hiêu nhóm. biết, tiếp thu ý - Chia sẻ hiểu biết cá nhân kiên từ người khác - Trinh bày, chia sẻ đồng thời tiếp thu ý kiến trao đổi của nhóm khác vê các nhiệm vụ học tập Năng lực hợp tác - Xây dựng kế hoạch thực hiện Thiêt lập, duy trì các hoạt - Nhận • và thực • nhiệm • hiện • vụ• động - Trình bày, trao đối kết quả với các thành viên trong nhóm Tô chức các - Tự đánh giá và đánh giá đông hoạt động- đẳng Sơ đô 1.1: Cãu trúc của năng lực hợp tác \ F ỉ _______ \ \ Sơ đô trên cho thây câu trúc của NLHT bao gôm có 3 năng lực thành phân là: Chia sẻ hiêu biêt, tiêp thu ý kiên với người khác; thiêt lập và duy trì các hoạt 9 động; tổ chức các hoạt động. Mỗi năng lực thành phần bao gồm một số hoạt động của cá nhân khi làm việc độc lập và làm việc nhóm trong quá trình họp tác để giải quyết nhiệm vụ chung. * Các biểu hiện của Năng lực hợp tác Bảng 1.