CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP TRONG MÔI TRƯỜNG ĐA VĂN HOÁ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những công trình nghiên cứu về năng lực giao tiếp, phát triển năng lực giao tiếp 1. Những nghiên cứu về năng lực Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về năng lực.
Đứng ở góc độ tâm lý, khi xem xét một cách khái quát, có hai khuynh hướng cơ bản sau: Khuynh hướng thứ nhất, xem năng lực như một điều kiện tâm lý của cá nhân, là điều kiện để hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó. Xmiecnov thì những thuộc tính nào đó của cá nhân là điều kiện để hoàn thành tốt những loại hoạt động nhất định, gọi là năng lực. Field &Drysdale cho rằng năng lực là khả năng thực hiện một công việc một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu có tính thách thức. Rubinstein thì năng lực là toàn bộ những thuộc tính tâm lý làm cho con người thích hợp với một loại hoạt động nhất định.
Petropxki, năng lực là những đặc điểm tâm lý của cá nhân mà nhờ đó, sự tích luỹ kỹ năng, kỹ xảo dễ dàng và nhanh chóng [19]. Còn theo Phạm Minh Hạc, năng lực là những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện để thực hiện có hiệu quả hoạt động đó. [20] Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể. Khuynh hướng thứ 2, xem năng lực là những thuộc tính của cá nhân, bao gồm cả những thuộc tính tâm lý và cả những thuộc tính giải phẫu sinh lý.
Trong khuynh hướng này, A. Covaliov cho rằng, năng lực là tổ hợp những thuộc tính của cá nhân, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được kết quả cao. Platonov, năng lực là thuộc tính của nhân cách, được xem xét trong mối quan hệ của chúng với những hoạt động nhất định [12].Petropxki, năng lực là những đặc điểm tâm lý của cá 10 nhân mà nhờ đó sự tích lũy kỹ năng, kỹ xảo được dễ dàng, nhanh chóng. Theo Trần Trọng Thuỷ, năng lực là sự phù hợp giữa một tổ hợp những thuộc tính nào đó của cá nhân với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, được thể hiện ở sự hoàn thành tốt đẹp hoạt động ấy [45].
Phạm Tất Dong cho rằng, năng lực là tổ hợp những đặc điểm tâm lý và sinh lý của cá nhân đang là những điều kiện chủ quan để cá nhân đó thực hiện có kết quả một hoạt động [16] Đứng ở góc độ Ngôn ngữ học, ngay từ những năm 1965, Noam Chomsky đã phân biệt “năng lực” và “hành vi” ngôn ngữ, theo đó, năng lực là một tiềm năng được hiện thực hoá thông qua lời nói hoặc chữ viết để tạo nên hành vi. Điều này cũng được thể hiện rõ trong từ điển Robert “năng lực là một hệ thống được tạo nên các nguyên tắc và các yếu tố vận dụng các nguyên tắc này, được kết hợp bởi người dùng một ngôn ngữ tự nhiên cho phép tạo ra một số lượng không giới hạn các câu đúng ngữ pháp của ngôn ngữ này và cho phép những câu chưa từng nghe thấy”. Như vậy, dưới cái nhìn của Ngôn ngữ học, Noam Chomsky cho rằng, năng lực là một thứ sẵn có của chủ thể với tri thức mang tính hình thức của các cấu trúc ngữ pháp tồn tại độc lập ngoài ngữ cảnh hay các giá trị ngữ dụng liên quan, và như vậy, chỉ nằm ở mức độ thành lập câu. Chính vì thế, đối với Noam Chomsky, năng lực không phải là đối tượng của quá trình học mà nó có được dựa trên quá trình chín muồi của bộ não [75] Đặt trên quan điểm chung về năng lực trong giảng dạy các môn học phổ thông, Christian Delory cho rằng, “năng lực là tập hợp đầy đủ các kiến thức, kỹ năng làm việc, kỹ năng sống giúp thích nghi, giải quyết vấn đề và thực hiện dự án trong một tình huống nào đó” [59].
Khái niệm này cho chúng ta thấy khá đầy đủ về các yếu tố cấu thành năng lực. Như vậy, năng lực trước tiên là tập hợp của các yếu tố “kiến thức” và “kỹ năng” để thực hiện một hoạt động nào đó, nhưng phải đặt trong “tình huống” cụ thể. Khung quy chiếu chung các ngôn ngữ Châu Âu cũng nêu rõ “Năng lực là tập hợp kiến thức, kỹ năng và nền tảng sẵn có cho hành động”, như vậy khái niệm này đề cập đến các yếu tố cần phải tích luỹ và những yếu tố đã được tích luỹ của chủ thể người học nhằm vận dụng trong một tình huống cụ thể nào đó. 11 Những nghiên cứu về cấu trúc của năng lực: Có rất nhiều nghiên cứu về mô hình về cấu trúc năng lực.
Mỗi nghiên cứu khác nhau đưa ra mô hình khác nhau. Nổi bật là những mô hình sau: Mô hình tảng băng của Spencer Mô hình tảng băng của Spencer về cấu trúc năng lực thể hiện được bản chất của năng lực, của mối quan hệ giữa các yếu tố nằm trong cấu trúc, của yếu tố tình cảm và ý chí [14] Hình 1. Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực của Spencer Mô hình cấu trúc năng lực theo OECD Trong các chương trình dạy học hiện nay của các nước thuộc khối OECD, người ta sử dụng mô hình năng lực đơn giản hơn, phân chia năng lực thành 2 nhóm chính, đó là năng lực chung và năng lực chuyên môn: + Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, chẳng hạn những thuộc tính về thể lực, trí tuệ (quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ,.) là điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có hiệu quả. + Năng lực chuyên môn (năng lực chuyên biệt) là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính chuyên môn, nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao như năng lực toán học, văn học, hội họa, âm nhạc, thể thao,.
Hai loại năng lực này bổ sung hỗ trợ cho nhau. Mô hình cấu trúc năng lực theo OECD Mô hình năng lực theo các nhà khoa học Đức Theo quan điểm của các nhà khoa học Đức, cấu trúc của năng lực hành động được cấu thành bởi 4 thành phần: Năng lực chuyên môn; Năng lực phương pháp; Năng lực xã hội; Năng lực cá thể. Các thành phần cấu trúc của năng lực + Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung - chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức tâm lý vận động.
+ Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là ngững khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận - giải quyết vấn đề.
13 + Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp. + Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc - đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo tổ chức văn hóa và giáo dục của liên hiệp quốc (UNESCO) Hình 1.
Mô hình cấu trúc năng lực theo UNESCO Như vậy, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, năng lực được cấu trúc bởi nhiều thành phần năng lực khác nhau. Do đó, khi phát triển năng lực cần xuất phát từ việc phát triển các năng lực thành phần này. Những nghiên cứu về năng lực giao tiếp Ở góc độ ngôn ngữ học, tác giả Hymes cho rằng năng lực giao tiếp được dùng để chỉ việc sử dụng hiệu quả ngôn ngữ trong những tình huống xã hội cụ thể [65]. Beautier – Casting lại cho rằng, năng lực giao tiếp là năng lực vốn có của người nói để hiểu một tình huống trao đổi ngôn ngữ và trả lời một cách thích hợp bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ, điều đó đồng nghĩa với việc đối chiếu một ngữ nghĩa không chỉ dưới hình thức quy chiếu, nghĩa học, nội dung 14 của thông điệp mà còn rất có thể là một hành vi, hoạt động tại lời và bởi lời có chủ đích.[52] Các tác giả của Khung quy chiếu chung các ngôn ngữ Châu Âu cho rằng năng lực giao tiếp là khả năng của một cá nhân nói chung và người học nói riêng thực hiện một hoạt động nào đó, ở đây là hành động giao tiếp trong ngôn ngữ cần học.
Nói cách khác, năng lực giao tiếp được thể hiện khi con người “vận hành các năng lực sẵn có trong các ngữ cảnh và điều kiện khác nhau theo các yêu cầu nhằm thực hiện các hoạt động ngôn ngữ, cho phép xử lý các văn bản theo các chủ đề trong một lĩnh vực cụ thể, có vận dụng các chiến lược phù hợp nhất để hoàn thành nhiệm vụ được giao”. Ở góc độ xã hội học, năng lực giao tiếp của một người nào đó là “tổng hợp năng lực vốn có và các khả năng thực hiện được hệ thống tiếp nhận và diễn giải các tín hiệu xã hội có được theo đúng như tập hợp các chỉ dẫn và quy trình đã được đã được xây dựng và phát triển để tạo ra trong một tình huống xã hội các hành xử phù hợp với việc xem xét các dự định của mình”. ** Về cấu trúc của năng lực giao tiếp: Về cấu trúc của năng lực giao tiếp được nhiều tác giả nghiên cứu, tuy nhiên, bàn về năng lực thành phần của năng lực giao tiếp cũng có nhiều quan điểm khác nhau.