phần mở đầu (5 trang), kết luận chung và kiến nghị (2 trang), và phụ lục (127 trang), tài liệu tham khảo (107 tài liệu) nội dung của luận án gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trƣờng phần Hóa học vô cơ ở trƣờng trung học phổ thông nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (45 trang). Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trƣờng phần Hóa học vô cơ ở trƣờng trung học phổ thông nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (59 trang). Thực nghiệm sƣ phạm (35 trang).
Ngoài ra, còn có: Danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng biểu (42 bảng), sơ đồ, hình vẽ (16 hình), danh mục các công trình khoa học liên quan đến luận án đã công bố (07 công trình nghiên cứu). 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG ỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG PHẦN HÓA HỌC VÔ CƠ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NƢỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về dạy học tích hợp 1.
Dạy học tích hợp trên thể giới Tích hợp là một trong những quan điểm chủ đạo để phát triển chƣơng trình giáo dục nói chung và môn Khoa học tự nhiên (KHTN) nói riêng của hầu hết các nƣớc trên thế giới từ tiểu học đến THPT. Tích hợp trở thành xu thế chủ yếu trong việc sắp xếp kiến thức, số giáo trình tích hợp các môn học tự nhiên ở một số nƣớc phát triển tăng lên rất nhanh. Một nghiên cứu về khảo sát chƣơng trình hơn 20 nƣớc của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho thấy 100% các nƣớc đó đều xây dựng chƣơng trình theo hƣớng tích hợp. Tiêu biểu nhất nhƣ: Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Úc, Pháp, Anh, Mỹ, Canada [26], [28].
Việc xây dựng chƣơng trình giáo dục (GD) theo tƣ tƣởng tích hợp bắt đầu đƣợc đề cao ở Mĩ và các nƣớc châu Âu những năm 50 - 60, ở Châu Á những năm 70 và ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỉ XX. Có thể nói, tích hợp đã trở thành xu thế phát triển giáo dục trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua. Cho đến nay xu hƣớng tích hợp trong các môn KHTN thực hiện theo 3 mức độ nhƣ sau: 1. Có môn học tên Khoa học từ tiểu học đến trung học phổ thông: Xu hƣớng này thể hiện rõ ở Mĩ, Anh, Úc, Singapo, Nhật Bản, Hàn quốc… 2.
Có tên môn Khoa học hoặc tên gọi khác ở tiểu học, đến THCS tách ra thành môn Lí- Hóa (Khoa học vật thể), Sinh – Địa (KH sự sống và KH về trái đất). Xu hƣớng này thể hiện ở Pháp, Đan Mạch, Phần lan, một số nƣớc châu Phi. Chỉ có môn Khoa học ở tiểu học. Tách thành các môn riêng biệt ở Trung học, tiêu biểu là Nga, Trung quốc, Việt nam… Tuy nhiên về cơ bản, phƣơng pháp dạy học (PPDH) các môn KHTN đều có điểm thống nhất chung đó là tìm tòi, khám phá.
Quan điểm tích hợp đã thể hiện rõ ràng từ khái niệm, cách tiến hành phát triển chƣơng trình, viết sách giáo khoa, PPDH,… 7 Ở Việt Nam, từ những năm 80 của thế kỉ XX đã có các chuyên gia, các đề tài nghiên cứu về tích hợp nói chung và tích hợp trong môn KHTN nói riêng. Năm 1997, trong khuôn khổ của dự án phát triển trung học cơ sở (THCS), Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã xây dựng đƣợc chƣơng trình môn KHTN ở THCS. Tuy nhiên, việc triển khai chƣơng trình này đã không thực hiện đƣợc do đội ngũ GV phổ thông chƣa đƣợc đào tạo NL DHTH, cũng nhƣ các điều kiện có liên quan. Tiếp đó cho đến nay, một loạt đề tài cấp Bộ, cấp Viện, nhiệm vụ cấp Bộ đã tiếp tục triển khai theo hƣớng đề xuất định hƣớng xây dựng chƣơng trình môn KHTN ở THCS, thử nghiệm biên soạn tài liệu dạy học môn KHTN, xây dựng chủ đề tích hợp liên môn Vật lí, Hóa học, Sinh học và dạy học theo dự án, đề xuất các phƣơng án tích hợp xây dựng chƣơng trình môn KHTN,… Trong các đề tài đó cũng đã nghiên cứu PPDH của một số nƣớc và đề xuất định hƣớng đối với Việt Nam.
Gần đây, vấn đề DHTH và đổi mới đào tạo GV đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhƣ là một nhu cầu tất yếu của giáo dục sau 2015, giáo dục định hƣớng phát triển NL. Đề tài trọng điểm cấp Bộ, “Hình thành NL DHTH cho GV THPT” nghiệm thu tháng 12/2012 có mã số B2010-TN03-30TĐ do PGS. Nguyễn Phúc Chỉnh – Đại học Sƣ phạm – Đại học Thái Nguyên làm chủ nhiệm đề tài. Đã phân tích cơ sở lí luận của DHTH, các biện pháp hình thành NL DHTH các môn KHTN và Khoa học xã hội cho GV trƣờng phổ thông.
Tuy nhiên, đề tài này chƣa đề cập đến chƣơng trình bồi dƣỡng đội ngũ giảng viên trẻ của các trƣờng Đại học Sƣ phạm nhằm nâng cao NL đào tạo GV DHTH môn KHTN. Tác giả Nguyễn Văn Biên và Nguyễn Thị Thu Thủy [8], đã công bố nghiên cứu về dạy học theo trạm một số kiến thức về hiệu ứng nhà kính. Kết quả thực nghiệm cho thấy hiệu quả của việc dạy học theo trạm nhằm góp phần nâng cao hứng thú, chất lƣợng kiến thức cho HS và có ý thức BVMT cho HS. Dạy học theo trạm phù hợp với hình thức khoa học tự chọn cho HS THPT.
Tác giả Dƣơng Tiến Sĩ [59], đã đề xuất các phƣơng thức và nghiên cứu tích hợp các môn học nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Nhóm tác giả Đỗ Hƣơng Trà (Chủ biên), Nguyên Văn Biên, Trần Khánh Ngọc, Trần Trung Ninh, Trần Thị Thanh Thủy, Nguyên Công Khanh, Nguyễn Vũ Bích Hiền [73], đã xuất bản một quyển sách về DHTH phát triển NL HS cho khoa học tự nhiên, đây là tài liệu quan trọng định hƣớng về DHTH ở các trƣờng. 8 Tuy nhiên, nghiên cứu về vấn đề DHTH hiện nay đang là một vấn đề mới và rất cần thiết. Trong môn Hóa học cũng chƣa có nhiều đề tài nghiên cứu vì vậy việc lựa chọn hƣớng đề tài này có một ý nghĩa thực tiễn và cấp thiết.
Dạy học tích hợp ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Chƣơng trình dạy học ở nƣớc Lào cũng tƣơng tự nhƣ Việt Nam, Lào cũng có hệ thống giáo dục 12 năm học (Cấp tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5, cấp THCS từ lớp 6 đến lớp 9 và cấp THPT từ lớp 10 đến lớp 12). Quan điểm DHTH thành một môn học đƣợc thực hiện ở các lớp tiểu học và cấp THCS là phần lớn [95], [102], quan điểm DHTH ở THPT chủ yếu là lồng ghép, kết hợp, nguyên nhân chủ yếu là việc DHTH liên quan đến nhiều yếu tố đòi hỏi phải có quá trình chuẩn bị nhƣ: chƣơng trình, sách giáo khoa, tổ chức dạy học,… Tuy vậy, ngày càng có nhiều nội dung giáo dục đƣợc tích hợp vào nội dung một số môn học ở trung học (Dân số, môi trƣờng, phòng chống HIV/AIDS, chống các tệ nạn xã hội, Giáo dục pháp luật, an toàn giao thông.) bằng phƣơng thức lồng ghép. Ở nƣớc Lào, thực tế tích hợp trong dạy học đã xuất hiện từ rất lâu [102]. Từ thập niên 90 của thế kỉ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau đã đƣợc nghiên cứu và bƣớc đầu thử nghiệm, áp dụng vào nhà trƣờng phổ thông, chủ yếu là cấp tiểu học và THCS.
Còn ở cấp THPT chỉ dừng lại ở mức độ lồng ghép, liên hệ các nội dung nhƣ: GDBVMT, biến đổi khí hậu,. vào các bài học có liên quan. a) Vấn đề và nhiệm vụ của giáo dục bảo vệ môi trường ở trường trung học phổ thông nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Ngày nay, GDBVMT là một nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ ở các trƣờng học, trong đó có trƣờng THPT [91]. GDVBMT nhằm mục tiêu nâng cao nhận thức,rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ và hành vi đúng đắn cho HS trong việc BVMT nói chung đặc biệt là HS nƣớc CHDCND Lào đƣợc cụ thể qua 3 nhiệm vụ nhƣ sau [92]: - Làm cho HS nhận thức rõ đặc điểm của môi trƣờng tự nhiên, vai trò của môi trƣờng đối với đời sống và sự phát triển của xã hội loài ngƣời, những tác động của con ngƣời làm cho môi trƣờng biến đổi xấu đi và hậu quả của nó.
- Trên cơ sở nhận thức đó, giáo dục cho HS lòng yêu thiên nhiên, biết quý trọng các phong cảnh đẹp, các di tích văn hóa lịch sử, ý thức bảo vệ giữ gìn môi trƣờng sống trong lành và sạch đẹp cho mình, cho mọi ngƣời và chống lại những hành vi phá hoại hoặc gây ô nhiễm môi trƣờng. - Trang bị cho HS một số phƣơng pháp và kĩ năng BVMT để họ có thể thực hiện các nhiệm vụ GDBVMT ở địa phƣơng đang sinh sống. 9 b) Phương hướng giáo dục bảo vệ môi trường ở trường trung học phổ thông nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào - Việc GDBVMT cần đƣợc tích hợp vào các môn học ở trƣờng THPT theo phƣơng hƣớng [91]: Thông qua kiến thức các môn học để lồng ghép hoặc liên hệ các kiến thức GDBVMT, nhằm trang bị cho HS một hệ thống kiến thức về môi trƣờng và các biện pháp BVMT tƣơng đối đầy đủ. - Việc GDBVMT phải đƣợc triển khai thông qua toàn bộ hệ thống trƣờng học.
- Nội dung và phƣơng pháp GDBVMT phải phù hợp với mục tiêu đào tạo từng cấp học và đặc điểm tâm lí nhận thức của học sinh theo từng lứa tuổi khác nhau. - Chú ý khai thác tình hình thực tế của môi trƣờng địa phƣơng và những biện pháp ngăn ngừa thay đổi có hại của môi trƣờng đối với sản xuất và cuộc sống của nhân dân địa phƣơng. c) Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Trong dạy học hóa học, cần chú ý các nội dung cơ bản sau đây về GDBVMT [91]: - Cung cấp cho HS những khái niệm cơ bản nhƣ môi trƣờng, môi sinh, khí quyển, thuỷ quyển, ô nhiễm môi trƣờng, chất gây ô nhiễm, hiệu ứng HS của quá trình gây ô nhiễm, tác hại của các chất và qúa trình gây ô nhiễm.