CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ XÂY DỰNG NTM VÀ KHAI THÁC CÁC CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG CỦA XÂY DỰNG NTM VÀO PHÁT TRIỂN KTXH 1. Các công trình nghiên cứu về xây dựng NTM và khai thác các công trình hạ tầng của NTM vào phát triển KTXH của các tác giả nước ngoài 1. Các công trình nghiên cứu về xây dựng nông thôn và NTM - Trong các nghiên cứu của các nhà kinh tế học Mác xít, các vấn đề về phát triển nông thôn, trong đó sự cần thiết đẩy mạnh phát triển KTXH nông thôn đã được làm rõ, những vấn đề ban đầu của chính quyền Xô viết.Mác (1867), với Tư bản (Das Kapital) là tác phẩm về kinh tế chính trị quan trọng của C.Mác được viết bằng tiếng Đức và dịch ra tiếng Việt. Trong tác phẩm, những luận điểm của C.Mác chỉ rõ xuất phát điểm ban đầu của phát triển ở mỗi quốc gia từ nông nghiệp, do tiến bộ của công cụ lao động, công nghiệp dần tách khỏi nông nghiệp và nhanh chóng trở thành ngành chính có nhiều ưu thế so với ngành nông nghiệp, chính vì lẽ đó nông nghiệp luôn lạc hậu tương đối so với công nghiệp và sự tập trung phát triển nông nghiệp, nông thôn, nhất là các cơ sở hạ tầng nông thôn được đặt ra là tất yếu.
+ Trong bài viết “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền xô viết” ở tác phẩm Lê Nin toàn tập, tập 36 (1977), Nhà xuất bản Tiến bộ Matxcơva, Lê Nin đã cho rằng: “Nâng cao năng suất lao động là điều kiện chủ yếu để nâng cao mức sống của nhân dân”. Vì vậy, bộ phận cấu thành kế hoạch hợp tác hoá của Lê Nin là nâng cao trình độ văn hoá của nông dân. Cách mạng văn hoá còn có ý nghĩa lớn hơn nữa, ngay cả trong điều kiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nó cần thiết cho việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật thích hợp và nâng cao nhanh chóng trình độ văn hoá của nhân dân. Đây cũng là một trong các vấn đề cốt lõi của phát triển nông thôn trong giai đoạn ban đầu của tiến trình xây dựng xã hội mới ở nước Nga xô viết.
+ Khi “Bàn về thuế lương thực”, Lê Nin toàn tập (1978), Nhà xuất bản Tiến bộ Matxcơva, tập 43, Lê Nin đã dành một phần quan trọng nói về tính tất yếu và vai trò của CNTB nhà nước trong nền kinh tế thời quá độ; chỉ rõ tính tất yếu khách quan của sự tồn tại các quan hệ TBCN trong thời kỳ quá độ và đề ra nhiệm vụ phải hướng sự phát triển của chúng vào con đường CNTB nhà nước, thông qua các hình thức: Tô nhượng, Chủ nghĩa tư bản hợp tác xã, đại lý, Nhà nước cho các nhà tư bản thuê xí nghiệp, vùng mỏ, khu rừng, khu đất… Đây là những cơ sở để tích lũy những điều kiện cho sự phát luan an 12 triển kinh tế nông thôn, trong đó có xây dựng các công trình hạ tầng nông thôn. - Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu thuộc tổ chức Nông Lương của Liên hiệp quốc (FAO) và ở các nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc. đã đưa ra một số công trình nghiên cứu về kinh tế nông thôn. Đó là: + Rural non-farm livelihoods in transition economies: Emerging issues and policies, JuniorDavis, Economist NRI, UK.
Journal of Agricultural and Development Economics, Agricultural and Development Economics Division (ESA) FAO Vol. “ Những cách sinh nhai phi nông nghiệp ở các nền kinh tế chuyển đổi: Vấn đề nổi cộm và chính sách”, Tác giả Junior Davis, nhà kinh tế Vương quốc Anh. Bài đăng tại Tạp chí kinh tế nông nghiệp và phát triển, sự phân chia kinh tế nông nghiệp và phát triển, Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc, số 02, năm 2006. Bài nghiên cứu phân tích kinh tế phi nông nghiêp tại nông thôn ở các nền kinh tế chuyển đổi (từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường) ở Đông và Trung Âu, bán đảo Balkans và các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ trong giai đoạn từ 1991 - 2006.
Theo kết quả nghiên cứu, kinh tế phi nông nghiệp chiếm từ (50 - 70)% thu nhập của nông dân các nước này, vì vậy không thể chỉ coi đó là cứu cánh tạm thời mà cần phải được xem xét trong chiến lược phát triển tổng thể. Nhiều hướng tiếp cận được gợi ý để phát triển khu vực kinh tế này, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước trong việc cung cấp ổn định chính trị, kết cấu hạ tầng, giáo dục, hỗ trợ về tài chính và tín dụng… - Agricultural Policy Reform and Structural Adjustment in Korea and Japan, Hanho Kim, Yong-Kee Lee. International Agricultural Trade Research Consortium, "Adjusting to Domestic and International Agricultural Policy Reform in Industrial Countries" Philadelphia, PA, June 6-7, 2004. “Cải cách chính sách nông nghiệp và điều chỉnh cấu trúc” tác giả: Hanho Kim, Yong-Kee Lee.
Hợp tác nghiên cứu thương mại nông nghiệp Quốc tế, “Điều chỉnh đối với cải cách chính sách nông nghiệp trong nước và Quốc tế ở những nước nông nghiệp” Philadelphia, PA, ngày 6, 7 tháng 6 năm 2004. Tác giả phân tích chính sách nông nghiệp qua các thời kì ở Hàn Quốc (1950 - nay) và Nhật Bản (1860 - nay). Cả hai nước đều trải qua một thời kì dài bảo hộ nông nghiệp và an ninh lương thực được đề cao (đặc biệt với lúa gạo), sau đó là quá trình chuyển đổi mạnh mẽ hướng tới thị trường (từ cuối những năm 1980 đến nay) nhằm tăng cường năng suất lao động và tính cạnh tranh của nông nghiệp trong nước. Đồng luan an 13 thời, bài viết cũng đã làm rõ sự khác biệt về chính sách nông nghiệp ở hai nước trên cơ sở phân tích những điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, tính chất cơ cấu nông nghiệp… từ đó đưa ra những gợi ý cho những điều chỉnh chính sách trong tương lai về phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- China’s Agricultural Restructuring and System Reform under Its Accession to the WTO, Du Ying (Department of Policy and Law, Ministry of Agriculture, China), ACIAR China Grain Market Policy Project Paper No. “Cải cách hệ thống và cấu trúc nông nghiệp của Trung Quốc tiến tới gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO”, tác giả DuYing (Vụ chính sách và pháp luật, Bộ nông nghiệp Trung Quốc), Báo dự án chính sách thị trường Gạo Trung Quốc số 12, ngày 12 tháng 11 năm 2000. Bài nghiên cứu điểm lại những thành tựu của nông nghiệp Trung Quốc sau 20 năm tiến hành chuyển dịch cơ cấu và cải cách nông nghiệp (1978 - 1999). Đồng thời, tác giả cũng nhận định những cơ hội và thách thức đối với nông nghiệp Trung Quốc một khi nước này gia nhập WTO, trong đó thách thức được coi là nhiều hơn trong ngắn hạn và chỉ có thể vượt qua bằng một nỗ lực lớn từ phía nhà nước trong việc đưa ra các chính sách nông nghiệp hợp lý.
Những chính sách được gợi ý bao gồm tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sang những loại nông sản có lợi thế so sánh, phát triển công nghiệp chế biến, giải quyết lao động thừa ở nông thôn… + The unfinished agenda: Indian Agriculture under the structural reforms, Servaas Storm, Department of Applied Economics, Eramus University, Rotterdam, The Netherlands, The Journal of International Trade and Economic Development 6:2 249-286, 1997. “Những việc không bao giờ kết thúc: Nông nghiệp Ấn Độ theo cải cách cấu trúc” Servaas Storm, khoa kinh tế ứng dụng, Trường Đại học Eramus, Rotterdam, Hà Lan, báo phát triển kinh tế và thương mại Quốc tế số 6: 2249 - 286, 1997. Bài viết phân tích những tác động trong trung hạn của chính sách tự do hóa thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp ở Ấn Độ giai đoạn 1985 - 1990, đặc biệt là tác động đến động cơ làm việc của nông dân vì sự thiếu thốn những khuyến khích được coi là cản trở chính đối với đầu tư tư nhân vào nông nghiệp và nỗ lực tăng năng suất lao động. Theo đó, can thiệp chủ động và tích cực của nhà nước trong việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, dỡ bỏ những hàng rào đối với đầu tư tư nhân vào nông nghiệp… được các tác giả gợi ý và ủng hộ mạnh mẽ 1.
Các công trình nghiên cứu về khai thác các công trình hạ tầng vào phát luan an 14 triển KTXH nông thôn Bên cạnh các công trình nghiên cứu về xây dựng NTM, các vấn đề khai thác các công trình hạ tầng vào phát triển KTXH nông thôn cũng được các nhà khoa học, nhà quản lý ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Cụ thể: - Rural industrialization in Korea: Experiences por Rural development in VietNam; Internationl conference. “Công nghiệp hóa nông thôn Hàn quốc: Bài học cho phát triển nông thôn Việt Nam” là tập Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế của trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội và trường Đại học quốc gia Mokpo tổ chức. Trong tập tài liệu có nhiều bài viết của các học giả quốc tế trình bày các nội dung công nghiệp hóa nông thôn ở Hàn Quốc; xu hướng phát triển NTM ở Hàn Quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn trong phát triển bền vững ở Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; kinh nghiệm phát triển NTM ở Hàn Quốc và bài học cho phong trào NTM ở Việt Nam.
Đặc biệt cuốn sách phân tích rõ Saemaul Undong của Hàn Quốc (Phong trào đổi mới của cộng đồng Hàn Quốc hay là phong trào xây dựng làng mới), trong đó các vấn đề hỗ trợ nông dân khai thác các công trình hạ tầng nông thôn như: Những làng hoàn thành tốt các dự án kết cấu hạ tầng sẽ được triển khai các dự án nâng cao thu nhập như khuyến nông, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh, xây dựng hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trồng rừng, kinh doanh. Hỗ trợ của nhà nước chuyển sang bằng tiền dưới hai dạng cho vay và cho không. Khoảng 750 ngàn nông hộ ở 137 vùng đã được hỗ trợ và khuyến khích sản xuất, chế biến, kinh doanh 21 mặt hàng bao gồm: gia cầm, thịt bò, sữa bò, dâu tằm, hoa màu, cây ăn quả, cá, nấm. - Các nghiên cứu sâu về quản lý và khai thác các công trình nước sạch nông thôn đã chỉ ra một hình thức mang nhiều ưu việt.
Đó là quản lý và khai thác các công trình nước sạch nông thôn dựa vào cộng đồng. Tuy nhiên hình thức quản lý và khai thác các công trình nước sạch nông thôn dựa vào cộng đồng không phải được thực tế thừa nhận ngay mà nó có quá trình nghiên cứu và triển khai vào thực tiễn khá dài. + Trên thực tế, khái niệm “có liên quan đến cộng đồng” và “quản lý nước dựa vào cộng đông” lần đầu tiên được W.