CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Có thể định nghĩa NHTM ở nhiều góc độ khác nhau, dựa trên: (i) chức năng của nó trong nền kinh tế, (ii) các nghiệp vụ mà nó cung cấp cho khách hàng và (iii) góc độ quản lý pháp luật. Dưới góc độ chức năng của NHTM trong nền kinh tế, NHTM là trung gian tài chính, nhận tiền gửi từ doanh nghiệp và cá nhân, sau đó cho các doanh nghiệp, cá nhân và ngân hàng khác vay.
NHTM đóng vai trò cầu nối giữa người có tiền dư thừa và người cần tiền, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy đầu tư và kích thích kinh doanh. Dưới góc độ các nghiệp vụ mà NHTM cung cấp cho khách hàng, (Peter.Rose 2002), “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Dưới góc độ quản lý pháp luật, Tại Hoa Kỳ, Tại Hoa Kỳ, NHTM được phân biệt với ngân hàng đầu tư (investment bank) do sự khác biệt trong quy định của luật ngân hàng, đặc biệt dưới Đạo luật Glass-Steagall (1933-1999). Đạo luật này phân biệt rõ ràng giữa ngân hàng đầu tư và NHTM, tuy nhiên, ranh giới này trở nên mờ nhạt sau khi Đạo luật Gramm–Leach–Bliley bãi bỏ Glass-Steagall năm 1999.
Tại Việt Nam, cụm từ NHTM được sử dụng trong Luật Các tổ chức tín dụng (2010) nhằm phân biệt với ngân hàng chính sách xã hội và ngân hàng hợp tác xã. Theo Luật Các tổ chức tín dụng (2010), NHTM được định nghĩa như sau:“Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật.”, hoạt động ngân hàng bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Trong phạm vi luận văn này, tác giả tiếp thu các định nghĩa đa dạng đã trình bày ở trên để đảm bảo phù hợp với quy định pháp luật, tác giả sử dụng định nghĩa NHTM theo Luật Các tổ chức tín dụng (2010). Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Phải khẳng định rằng NHTM là một ngân hàng, vì vậy nó luôn thực hiện hai hoạt động chính để phân biệt với các tổ tín dụng phi ngân hàng, đó là nhận tiền gửi và cấp tín dụng, hay được hiểu là trung gian tài chính tập hợp tiền từ người có nhu 11 cầu gửi tiền và cho người cần vay vay.
Ngoài ra, NHTM còn cung cấp một số dịch vụ khác cho khách hàng như dịch vụ cất giữ tài sản quý, trao đổi ngoại tệ, dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo lãnh,… Các ngân hàng chấp nhận tiền gửi từ cá nhân và doanh nghiệp dưới dạng tài khoản tiết kiệm, tài khoản thanh toán và tài khoản thị trường tiền tệ. Các khoản tiền gửi này là nguồn tiền cho ngân hàng, sau đó ngân hàng cho vay để kiếm lãi. Các khoản vay có thể phục vụ nhiều mục đích khác nhau, chẳng hạn như mua nhà, mua ô tô hoặc khởi nghiệp kinh doanh. Các ngân hàng tính lãi suất cho các khoản vay, đây là nguồn thu nhập chính của họ.
Về hoạt động cung cấp dịch vụ thanh toán, các ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển tiền giữa mọi người và doanh nghiệp. Dịch vụ thanh toán có thể được thực hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau, chẳng hạn như séc, chuyển khoản điện tử và thẻ ghi nợ. Ngân hàng cũng cung cấp nhiều dịch vụ tài chính khác, chẳng hạn như két an toàn, séc ngân hàng và séc du lịch. Các hoạt động cốt lõi này rất cần thiết cho sự vận hành trơn tru của nền kinh tế.
Bằng cách nhận tiền gửi và cho vay, các ngân hàng giúp phân bổ vốn hiệu quả và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung cấp cho phép chuyển tiền nhanh chóng và dễ dàng, điều này rất cần thiết cho thương mại. Tại Việt Nam, NHTM về các hoạt động chính, không khác biệt với ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã. Cả ba loại hình đều được quyền thực hiện đầy đủ các hoạt động ngân hàng, bao gồm ba hoạt động: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Việc xác định các hoạt động của ngân hàng có ý nghĩa phân biệt NHTM (là một ngân hàng) với tổ chức tín dụng không phải ngân hàng. Theo Luật Các tổ chức tín dụng 2020, tổ chức tín dụng không phải ngân hàng bao gồm: “tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm: “công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác, là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng.” Tại Việt Nam, các hoạt động của NHTM được quy định tại Điều 98, Luật Các tổ chức tín dụng (2010) bao gồm: “1. Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; 2.
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài. 12 Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; 5. Cung ứng các phương tiện thanh toán; 6. Cung ứng các dịch vụ thanh toán…” 1.
Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay là nghiệp vụ kinh doanh cốt lõi của NHTM, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế. (Hà 2014) “Cho vay là việc ngân hàng cấp tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc là lãi trong khoảng thời gian xác định. Ngân hàng có thể cho vay bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, tiền có thể chuyển tới tài khoản của khách hàng hoặc tài khoản của người bán hàng cho khách hàng.” Luật Các tổ chức tín dụng (2010) và Luật Các tổ chức tín dụng (2024) đều đưa ra định nghĩa về hoạt động cho vay, tuy nhiên Luật các tổ chức tín dụng (2024) điều chỉnh, bổ sung một đặc điểm của hoạt động cho vay là “hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay.” Theo Luật Các tổ chức tín dụng (2024): “Cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay.” Tuy nhiên, cả hai luật đều thống nhất, cho vay là một hình thức cấp tín dụng. Thông qua định nghĩa này, có thể rút ra hoạt động cho vay có các đặc điểm như: (i) tính sinh lợi: NHTM thu lãi suất từ hoạt động cho vay; (ii) có mục đích vay xác định trước và bắt buộc sử dụng khoản tiền cho vay đúng mục đích; (iii) có thời gian vay xác định; (iv) tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay.
Bên cạnh đó, hoạt động cho vay cần tuân thủ các quy định của pháp luật liên quan tới hoạt động cho vay. Vai trò của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1. Vai trò đối với nền kinh tế vĩ mô Đối với nền kinh tế, hoạt động cho vay – một công cụ cấp tín dụng, có vai trò quan trọng là tạo lập trung gian tài chính, nó chuyển nguồn vốn của những người dư thừa sang những người cần vay, vì vậy, hoạt động cho vay thúc đẩy phát triển kinh tế. Thứ nhất, nó có vai trò cung cấp nguồn vốn phục vụ sản xuất và đầu tư.
Các doanh nghiệp và cá nhân có thể đầu tư vốn vào các hoạt động sản xuất và kinh doanh thông qua các dịch vụ của các NHTM. Việc cho vay của NHTM hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bằng cách thúc đẩy năng lực sản xuất và tạo ra hàng hóa và dịch vụ mới. Ngoài ra, cho vay tiêu dùng giúp thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng của người dân làm động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 13 Thứ hai, hoạt động cho vay giúp hỗ trợ phân bổ vốn hiệu quả trong kinh tế vĩ mô.
Các hoạt động cho vay hỗ trợ phân phối vốn hiệu quả cho nền kinh tế bằng cách chuyển tiền từ người tiết kiệm sang người cần vốn. NHTM có thể hỗ trợ các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia bằng cách ưu tiên các lĩnh vực quan trọng thông qua các công cụ và chính sách cho vay. Thứ ba, hoạt động cho vay giúp tăng tỉ lệ việc làm. Cho vay giúp các công ty tạo việc làm mới, qua đó làm giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Các chương trình tín dụng vi mô hỗ trợ những người nghèo và yếu thế tiếp cận được vốn để họ có cơ hội cải thiện mức sống và thoát nghèo. Thứ tư, hoạt động cho vay giúp duy trì sự ổn định của thị trường tiền tệ bằng cách kiểm soát lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế. Ngân hàng trung ương có thể quản lý lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua hệ thống NHTM bằng cách sử dụng các biện pháp chính sách tiền tệ, chẳng hạn như thay đổi lãi suất cho vay. Thứ năm, hoạt động cho vay khuyến khích hội nhập toàn cầu của nền kinh tế, nó cung cấp các khoản vay để thúc đẩy xuất khẩu giúp các công ty cạnh tranh hơn trên thị trường toàn cầu.
Các dịch vụ tài chính quốc tế như chuyển tiền và thanh toán có thể được các NHTM cung cấp, giúp thúc đẩy hội nhập kinh tế toàn cầu. Vai trò đối với ngân hàng thương mại Thứ nhất, hoạt động cho vay là nguồn thu nhập chính của NHTM Nguồn thu nhập chính, giúp ngân hàng thu được lợi nhuận từ lãi suất cho vay. Đây là nguồn thu nhập chính của ngân hàng, đóng góp vào việc duy trì hoạt động và tạo lợi nhuận cho ngân hàng.