CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Cho vay là hoạt động truyền thống và quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại. Cho vay chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động có nhiều rủi ro nhất.
Phân theo đối tượng khách hàng, các NHTM có hai hình thức cho vay chính là cho vay khách hàng cá nhân và cho vay khách hàng doanh nghiệp. Theo Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 18 tháng 01 năm 2024: Cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, cho vay KHCN được hiểu như sau: “Cho vay KHCN là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM giao cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh một khoản tiền để sử dụng trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích đáp ứng nhu cầu vay vốn để tiêu dùng và phục vụ sản xuất, kinh doanh” 1. Đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại Cho vay KHCN có những đặc điểm riêng, thể hiện sự khác biệt với các loại hình cho vay khác, cụ thể như sau: - Đối tượng và mục đích vay: Là các cá nhân có nhu cầu vay vốn để sử dụng phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tư hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân đó.
Khác với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, khách hàng cá nhân thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng song không thường xuyên 8 và chịu sự ảnh hưởng nhiều của môi trường kinh tế, văn hóa –xã hội. - Thị trường cho vay khách hàng cá nhân rộng nhưng quy mô khoản vay nhỏ. Hầu hết các khoản cho vay KHCN có quy mô nhỏ nhưng số lượng khoản vay và thị trường lại rộng lớn, do cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, nên quy mô của một khoản vay tương đối nhỏ so với tài sản của ngân hàng, số lượng các khoản vay cũng rất lớn do đối tượng của cho vay là các cá nhân sinh sống là vàm việc trên một vùng - Các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân có tính tương đồng và có tính chuẩn hóa cao. Mặc dù nhu cầu của mỗi cá nhân là không giống nhau, xuất phát từ sở thích, thu nhập và nơi sinh sống của mỗi người, nhưng sẽ đều có một số nhu cầu chung tương tự nhau như giải quyết vấn đề nơi sinh hoạt, phương tiện đi lại, mở mới hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh của bản thân, gia đình.
Để đáp ứng được những nhu cầu cấp thiết và cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng, kịp thời nhất, các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân phải được thiết kế chuẩn hóa, thống nhất tương tự “may sẵn” để bất kì khách hàng nào cũng có thể lựa chọn các sản phẩm thích hợp nhất với thời gian nhanh nhất, chi phí hợp lý nhất. Do đó, các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân phải có tính chuẩn hóa cao ở một số nội dung như xác định đối tượng khách hàng mục tiêu (độ tuổi, thu nhập, mục đích vay vốn.), quy trình cấp tín dụng (thời gian thẩm định phê duyệt, thủ tục thực hiện…), chính sách lãi suất, phí (lãi suất cho vay, các loại phí khác…), chính sách bán hàng (hồ sơ – mẫu biểu, công tác truyền thống…). - Cho vay khách hàng cá nhân có mức độ ổn định và phân tán rủi ro. Số lượng khách hàng lớn, và hầu hết các ngân hàng thương mại đều có khẩu vị cung cấp các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân có tài sản bảo đảm là sản phẩm chủ đạo và phát triển chính, do đó rủi ro từ hoạt động cho vay này được phân tán theo số đông, và có thể thu hồi vốn trong trường hợp khoản vay nợ có vấn đề, bằng cách phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay đó.
- Các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân có chính sách riêng về giá, phí tương đối cao hơn so với các đối tượng vay vốn khác. 9 Do quy mô các khoản vay thường nhỏ dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản cho vay này) cao, đồng thời để cung ứng các sản phẩm dịch vụ tới khách hàng thuận tiện và nhanh chóng nhất, các nhân hàng thương mại phải mở nhiều điểm giao dịch (chi nhánh, PGD) nên rất tốn kém về chi phí. Do vậy, lãi suất và phí của các sản phẩm cho vay KHCN thường cao hơn so với lãi suất và phí áp dụng cho đối tượng cho vay khác của ngân hàng như KHDN, các TCTD khác nhằm bù đắp lại các chi phí đã bỏ ra. Vai trò của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại - Đối với nền kinh tế: Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và việc làm, phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính.
Đồng thời là công cụ điều tiết kinh tế xã hội của nhà nước. Thông qua lãi suất, tín dụng ngân hàng nói chung và tín dụng bán lẻ nói riêng góp phần lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân giúp truyền tải vốn từ người thừa vốn sang người thiếu vốn, góp phần điều hoà tạo điều kiện cho mọi hoạt động trong toàn bộ nền kinh tế được liên tục về vốn. - Đối với khách hàng: Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho khách hàng.
Việc phân phối nguồn vốn tín dụng kịp thời giúp cho khách hàng kịp thời tận dụng được những cơ hội kinh doanh, nâng cao chất lượng cuộc sống, hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp siêu vi mô được cải thiện rõ rệt, phát triển tình hình kinh doanh. Ngoài ra, việc được ngân hàng cho vay vốn cũng thể hiện sự uy tín của khách hàng và giúp khách hàng mở rộng kinh doanh. - Đối với ngân hàng: Trong những năm gần đây, xu hướng của rất nhiều NHTM là mô hình “ngân hàng bán lẻ” với các sản phẩm dịch vụ đặc trưng cho nhóm khác hàng phân khúc bán lẻ. Phân khúc khách hàng này dần trở thành mục tiêu, mang lại nguồn lợi nhuận to lớn cho các NHTM.
Do đặc điểm số lượng khách hàng tại phân khúc này thường lớn, khoản vay nhỏ, tuy nhiên chênh lệnh giữa giá bán và mua vốn lại cao hơn phân khúc KHDN. Thông qua hoạt động cho vay khách hàng cá nhân, ngân hàng mở rộng được các loại hình dịch vụ khác như thanh toán, 10 thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn v. Từ đó ngân hàng đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro khi ngân hàng trung ương thắt chặt tiền tệ hoặc khi gặp rủi ro tín dụng. Như vậy, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân có vai trò vô cùng quan trọng, mang lại tỷ trọng lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng.
Đồng thời đó cũng là một giải pháp tài chính giúp cho các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp siêu vi mô có đủ nguồn vốn để thực hiện các kế hoạch tài chính của đã đề ra, góp phần phát triển nền kinh tế. Phân loại hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại các Ngân hàng thương mại 1. Phân loại theo đối tượng vay vốn + Cho vay vốn sản xuất kinh doanh + Cho vay mua sắm đầu tư tài sản cố định + Cho vay kinh doanh chứng khoán + Cho vay tiêu dùng cá nhân + Cho vay du học + Cho vay tín chấp + Cho vay học phí + Cho vay mua nhà đất để ở + Cho vay mua ô tô + Một số sản phẩm khác tuỳ theo từng NHTM cụ thể. Phân loại theo kỳ hạn vay vốn - Cho vay ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn không quá một năm, dùng để bổ sung phần vốn lưu động còn thiếu trong quá trình kinh doanh của các cá nhân, hộ gia đình hoặc được sử dụng để mua sắm đồ dùng phục vụ nhu cầu cá nhân.
- Cho vay trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên một năm đến dưới năm năm và sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc sửa chữa nhà cửa. - Cho vay dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, thường áp dụng đối 11 với các khoản vay cá nhân mua nhà đất, nhà chung cư. Nhìn chung, tín dụng dài hạn chịu rủi ro rất lớn bởi thời hạn càng dài thì những biến động không thể dự tính có thể xảy ra càng lớn. Phân loại theo hình thức tài sản bảo đảm - Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ được dựa trên niềm tin có đầy đủ căn cứ (tư cách của khách hàng, quy mô hoạt động kinh doanh, uy tín trong lĩnh vực kinh doanh và có lịch sử giao dịch tốt với các TCTD…) và đáp ứng tất cả tiêu chí cho vay không có TSBĐ của từng ngân hàng.
- Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba. TSBĐ là biện pháp nhằm làm giảm thiểu rủi ro mất vốn khi cho vay. Các hình thức của TSBĐ gồm cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba, đảm bảo bằng tài sản được hình thành từ vốn vay… 1.