Chương 1:Lý luận chung về tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa. - Chương 2: Thực trạng về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thươngchi nhánh Bình Thuận. - Chương 3: Các giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương Chi nhánh Bình Thuận. 5 CHƢƠNG 1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG 1. Khái niệm về tín dụng Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Nhƣ vậy, bản chất của tín dụng là giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả. Tín dụng có các đặc trƣng nhƣ sau: - Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản, động sản).
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy bên cho vay khi chuyển vay tài sản cho bên đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng ngƣời đi vay sẽ trả nợ đúng hạn. - Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay. Hay nói cách khác, bên đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. - Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay đƣợc cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện.
Về khía cạnh pháp lý đƣợc thể hiện ở những văn bản xác định quan hệ tín dụng nhƣ hợp đồng tín dụng, khế ƣớc… trong đó, bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Phân loại tín dụng ngân hàng. Kinh tế thị trƣờng càng phát triển, thì các ngân hàng càng phải nghiên cứu đƣa ra các hình thức tín dụng đa dạng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, từ đó đa dạng hóa danh mục đầu tƣ, thu hút khách hàng, tăng lợi nhuận, phân tán rủi ro và nâng cao vị thế cạnh tranh. Chính vì vậy, ngân hàng cung cấp rất nhiều 6 loại tín dụng, cho nhiều đối tƣợng khách hàng với những mục đích sử dụng khác nhau.
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo những tiêu thức khác nhau nhƣ: 1. Căn cứ vào mục đích - Tín dụng bất động sản: là loại tín dụng liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhƣ nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ. - Tín dụng công nghiệp và thƣơng mại: là loại tín dụng ngắn hạn để bổ sung vốn lƣu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ.
- Tín dụng nông nghiệp: là loại tín dụng để trang trải các chi phí sản xuất nhƣ phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu…. - Tín dụng tiêu dùng: đây là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để mua sắm hàng hóa tiêu dùng nhƣ xe hơi, trang thiết bị trong nhà…. Căn cứ và thời hạn cho vay - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống và đƣợc sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lƣu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Tín dụng trung hạn: theo quy định hiện nay của nhà nƣớc Việt Nam, cho vay trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
Còn đối với các nƣớc trên thế giới, loại cho vay này có thời hạn đến 7 năm. - Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm (Việt Nam) và trên 7 năm đối với các nƣớc trên thế giới. Tín dụng dài hạn nhằm đáp ứng cho nhu cầu đầu tƣ dài hạn nhƣ xây dựng cơ bản (nhà xƣởng, dây chuyền sản xuất…), xây dựng cơ sở hạ tầng (đƣờng xá, cảng biển, sân bay…), cải tiến và mở rộng sản xuất 7 có quy mô lớn. Do thời hạn đầu tƣ thƣờng kéo dài nên tín dụng dài hạn thƣờng áp dụng hình thức giải ngân nhiều lần theo tiến độ dự án.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng - Tín dụng không đảm bảo: là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần nguồn thu nợ thứ hai bổ sung. - Tín dụng có đảm bảo: là loại tín dụng đƣợc ngân hàng cung ứng phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với khách hàng không có uy tín cao, hay đối với trƣờng hợp cho vay với mức độ rủi ro cao, khi vay vốn đòi hỏi phải có đảm bảo.
Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn, tạo áp lực buộc ngƣời vay phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng - Tín dụng bằng tiền: là loại tín dụng mà hình thái giá trị của nó đƣợc cung cấp bằng tiền. Đây là loại tín dụng chủ yếu của ngân hàng và thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau nhƣ: tín dụng ứng trƣớc, thấu chi, tín dụng trả góp…. - Tín dụng bằng tài sản: là hình thức tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tài sản.
Riêng đối với ngân hàng cho vay bằng tài sản đƣợc áp dụng phổ biến đó là tài trợ thuê mua. Theo phƣơng thức cho vay này, ngân hàng hoặc các công ty thuê mua cung cấp trực tiếp tài sản cho ngƣời đi vay đƣợc gọi là ngƣời đi thuê, và theo định kỳ ngƣời đi thuê hoàn trả nợ vay bao gồm vốn gốc và lãi. - Tín dụng bằng uy tín: là loại tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng uy tín. Hình thức tín dụng này chính là bảo lãnh ngân hàng.
Căn cứ vào phương pháp hoàn trả - Tín dụng trả góp: là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ. Loại cho vay này chủ yếu đƣợc áp dụng cho vay bất động sản nhà ở. Thông thƣờng có bốn phƣơng thức trả góp sau: 8 + Phƣơng pháp cộng thêm. + Phƣơng pháp trả vốn góp bằng nhau và trả lãi theo số dƣ vào cuối mỗi định kỳ.
+ Phƣơng pháp trả vốn gốc bằng nhau và trả lãi tính trên mức hoàn trả của vốn gốc. + Phƣơng thức trả vốn gốc và lãi bằng nhau trong tất cả các định kỳ (phƣơng pháp hiện giá). - Tín dụng hoàn trả một lần: là loại tín dụng mà khách hàng hoàn trả vốn gốc và lãi một lần khi đến hạn. Loại tín dụng này thƣờng áp dụng cho những khoản vay nhỏ và có thời hạn ngắn.
- Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: là loại tín dụng mà việc trả nợ vay của khách hàng không quy định thời hạn cụ thể. Việc hoàn trả phụ thuộc vào khả năng tài chính của ngƣời đi vay. Loại tín dụng này thƣờng áp dụng cho những khoản vay thấu chi, thẻ tín dụng. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng - Tín dụng trực tiếp: là hình thức tín dụng trong đó, ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho ngƣời có nhu cầu, đồng thời ngƣời đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Tín dụng gián tiếp: là khoản cho vay đƣợc thực hiện thông qua việc mua lại các khế ƣớc hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Ngân hàng thƣơng mại cho vay gián tiếp theo các loại sau: + Chiết khấu thƣơng mại: ngƣời thụ hƣởng hối phiếu hoặc lệnh phiếu còn trong hạn thanh toán có thể nhƣợng lại cho ngân hàng. Trong trƣờng hợp này ngân hàng cấp cho khách hàng một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí. Khi các chứng từ này đến hạn thanh toán ngƣời thụ lệnh hối phiếu hoặc ngƣời phát hành lệnh phiếu có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng.
Trong nghiệp vụ chiết khấu thƣơng mại ngƣời đƣợc cấp tín dụng và ngƣời chịu trách nhiệm thanh toán chính cho ngân hàng là hai ngƣời khác nhau. 9 + Mua các khoản nợ của doanh nghiệp (nghiệp vụ factoring). Phát triển hoạt động cho vay Thƣờng khi nói đến “phát triển”, ngƣời ta thƣờng nghĩ đến việc phát triển theo chiều rộng và chiều sâu của hoạt động đó. Phát triển hoạt động cho vay cũng vậy, nó đƣợc xem nhƣ việc mở rộng hoạt động cho vay và nâng cao hiệu quả của hoạt động cho vay.
Mở rộng hoạt động cho vay: Mở rộng hoạt động cho vay là một khái niệm kinh tế, chỉ một phƣơng thức kinh doanh của NHTM qua việc phấn đấu cho sự tăng lên về quy mô, khối lƣợng, không gian, chất lƣợng tín dụng các khoản cho vay và tăng lợi nhuận của ngân hàng để đảm bảo cho ngân hàng phát triển bền vững bằng việc các ngân hàng có khả năng đáp ứng nhanh chóng, rộng rãi các nhu cầu vay vốn của mọi chủ thể hội đủ những điều kiện theo quy định, qua đó thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế của các chủ thể kinh tế và nền kinh tế. [4] Từ khái niệm trên cho thấy nội dung, khái niệm mở rộng hoạt động cho vay bao gồm những điểm chủ yếu sau: Một là, mở rộng hoạt động cho vay là một khái niệm kinh tế chỉ một phương thức kinh doanh của NHTM: Là một khái niệm kinh tế bởi nó chứa đựng yếu tố kinh tế, phản ánh về lợi nhuận, về tăng trƣởng kinh tế. Mở rộng hoạt động cho vay còn chứa đựng tính chất xã hội bởi chứa đựng sự tín nhiệm và sự điều chỉnh của pháp luật và những quy định, những quy trình, điều kiện mang tính chất pháp lý.