Tổng quan nghiên cứu

Phát triển hệ thống trường Phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT) giữ vai trò then chốt trong chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tại tỉnh Lạng Sơn, một tỉnh miền núi biên giới có đường biên dài 231,74 km giáp Trung Quốc, dân số trên 750.000 người với hơn 85% là đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là dân tộc Nùng chiếm 43% và Tày chiếm 35%), điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Toàn tỉnh có 91 xã đặc biệt khó khăn và 838 thôn, bản thuộc khu vực III, trong đó tỷ lệ hộ nghèo chiếm 19% (tương đương 35.537 hộ) và hộ cận nghèo chiếm 11,9%.

Địa hình chia cắt phức tạp với độ cao trung bình 250m so với mực nước biển khiến đường đến trường của học sinh gặp nhiều trở ngại, dẫn đến nguy cơ bỏ học cao và duy trì các lớp ghép chất lượng thấp. Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng ban hành và triển khai chính sách phát triển hệ thống trường PTDTBT trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn 2011 - 2018, từ đó xác định mục tiêu và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục học sinh giai đoạn 2018 - 2022, định hướng đến năm 2030 theo tinh thần Nghị quyết số 52/NQ-CP của Chính phủ.

Ý nghĩa của nghiên cứu được thể hiện rõ qua các chỉ số định lượng: đánh giá toàn diện quá trình chuyển đổi 101 trường PTDTBT, phân tích hiệu quả quản lý ngân sách hỗ trợ trên 50 tỷ đồng từ các chính sách an sinh giáo dục, góp phần duy trì tỷ lệ huy động trẻ đến trường đạt trên 99% và xóa bỏ 100% tình trạng học ca 3 tại các vùng lõi nghèo của địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân tích chu trình chính sách công của Đỗ Phú Hải (2012), kết hợp với lý thuyết phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số của Hoàng Hữu Bình và Phan Văn Hùng (2013). Khung phân tích tập trung vào 3 chiều cạnh: thể chế hóa văn bản chỉ đạo, tổ chức bộ máy thực thi và đánh giá kết quả thụ hưởng chính sách.

Trong hệ thống lý luận, luận văn làm rõ và phân biệt 4 khái niệm cốt lõi:

  • Chính sách công trong giáo dục: Tập hợp các quyết định chính trị nhằm phân bổ nguồn lực công để đảm bảo công bằng xã hội trong tiếp cận tri thức.
  • Trường phổ thông dân tộc bán trú: Trường chuyên biệt công lập được thành lập tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có tối thiểu 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% (cấp tiểu học) hoặc 50% (cấp trung học cơ sở) học sinh ở bán trú theo Thông tư số 24/2010/TT-BGDĐT.
  • Học sinh bán trú dân nuôi: Học sinh không thể đi về trong ngày do đường sá cách trở, được Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt ở lại trường trong tuần và hưởng trợ cấp theo Nghị định số 116/2016/NĐ-CP.
  • Vùng đặc biệt khó khăn: Các địa bàn thuộc diện đầu tư của Chương trình 135 và Quyết định số 447/QĐ-UBDT có tỷ lệ hộ nghèo trên 20% và hạ tầng chưa hoàn thiện.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng toàn diện, khảo sát 100% trong tổng số 101 trường PTDTBT đã được thành lập trên toàn tỉnh Lạng Sơn, bao quát dữ liệu học tập và rèn luyện của 11.347 học sinh bán trú (gồm 5.614 học sinh tiểu học và 5.733 học sinh trung học cơ sở) trong năm học 2017 - 2018.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2011 - 2018 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lạng Sơn, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương (Quyết định số 85/2010/QĐ-TTg, Nghị định số 116/2016/NĐ-CP) và địa phương (Quyết định số 28/2017/QĐ-UBND, Nghị quyết số 53/2017/NQ-HĐND).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp so sánh đối chiếu định tính là nhằm lượng hóa chính xác sự chuyển dịch về chất lượng giáo dục hai mặt của học sinh, đồng thời chỉ ra khoảng cách giữa mục tiêu chính sách và năng lực đáp ứng thực tế về cơ sở hạ tầng tại 11 đơn vị hành chính cấp huyện trong toàn tỉnh suốt tiến trình từ năm 2017 đến đầu năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chính sách chuyển đổi mô hình trường PTDTBT đạt tỷ lệ thực thi hành chính tuyệt đối. Đến hết năm 2018, toàn tỉnh đã chuyển đổi thành công 101 trường PTDTBT, đạt 100% hồ sơ pháp lý theo đúng quy định Thông tư 24/2010/TT-BGDĐT. Tỉnh đã giải ngân 43.790 triệu đồng tiền ăn, 6.881 triệu đồng tiền ở và cấp phát 9.765 tấn gạo hỗ trợ cho học sinh bán trú giai đoạn 2011 - 2018.

Thứ hai, có sự phân hóa rõ rệt về chất lượng giáo dục giữa hai cấp học. Ở cấp tiểu học, chất lượng duy trì rất khả quan với 68,69% học sinh hoàn thành tốt môn Tiếng Việt và 49,90% hoàn thành tốt môn Toán; tỷ lệ học sinh có phẩm chất, năng lực tốt đạt 68,38%. Ngược lại, ở cấp trung học cơ sở, học sinh xếp loại học lực giỏi chỉ đạt 10,98%, loại khá đạt 38,79%, trong khi tỷ lệ học lực trung bình chiếm tới 49,10% và học lực yếu kém là 1,13%. Về hạnh kiểm cấp THCS, có 74,18% xếp loại tốt nhưng vẫn còn 24,29% xếp loại khá và 1,53% xếp loại trung bình, yếu.

Thứ ba, khoảng trống cơ sở vật chất phục vụ sinh hoạt nội trú còn rất lớn. Toàn mạng lưới có 355 trường có học sinh bán trú với 67.384 phòng học, nhưng còn khoảng 10% phòng học tạm, phòng học nhờ. Tổng số giường nằm đạt chuẩn chỉ có 2.269 chiếc (trong đó chỉ 1.737 chiếc còn dùng tốt), dẫn đến tình trạng 4.892 học sinh phải thuê trọ ngoài nhà dân và 56 em ở tạm bợ quanh trường.

Thứ tư, đội ngũ quản lý và nhân viên hỗ trợ bán trú thiếu hụt nghiêm trọng. Toàn bộ 100% cán bộ phụ trách thanh tra cấp Phòng Giáo dục và Đào tạo đều chưa qua các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra chuyên sâu, chỉ tham gia tập huấn hè ngắn ngày từ 1 đến 2 ngày. Các trường hoàn toàn thiếu định biên nhân viên cấp dưỡng chuyên trách được đào tạo bài bản.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của việc chất lượng học lực cấp trung học cơ sở đạt mức giỏi thấp (10,98%) và trung bình cao (49,10%) bắt nguồn từ việc các trường chưa tổ chức được các buổi tự học ban đêm có giáo viên trực tiếp hướng dẫn. Khi mô hình hóa dữ liệu học lực bằng biểu đồ cột so sánh tương quan giữa cấp tiểu học và THCS, sự sụt giảm tỷ lệ học sinh xuất sắc ở cấp học cao hơn phản ánh rào cản ngôn ngữ, tâm lý lứa tuổi và phương pháp giảng dạy chậm đổi mới tại các điểm trường lẻ.

So sánh với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hài (2013) tại Lào Cai và Hồ Xuân Hồng (2014) tại Gia Lai, vấn đề thiếu hụt hạ tầng nhà tắm, nhà ăn và nước sinh hoạt hợp vệ sinh trong mùa khô tại Lạng Sơn cũng là thách thức mang tính phổ quát ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, Lạng Sơn đã tạo được điểm sáng trong công tác xã hội hóa giáo dục thông qua phong trào "Hũ gạo tình thương" và "Ba đủ", từng bước biến trường học thành mái ấm tin cậy. Đúng như nhận định được đúc kết từ thực tiễn cơ sở: "Trường bán trú là ngôi nhà thứ hai của học sinh vùng khó khăn."

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch lại mạng lưới trường lớp và kiên cố hóa hạ tầng sinh hoạt. Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng và Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện mục tiêu xóa bỏ 100% phòng học tạm (hiện chiếm 10%), đầu tư bổ sung tối thiểu 3.000 giường ngủ nội trú đạt chuẩn kỹ thuật, xây dựng hệ thống cấp nước sạch và nhà vệ sinh tự hoại khép kín tại 101 trường PTDTBT trong giai đoạn 2018 - 2022.

Thứ hai, đổi mới chương trình dạy học gắn liền với quản lý tự học nội trú. Sở Giáo dục và Đào tạo cùng Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện chỉ đạo các nhà trường thiết lập 100% lịch tự học tập trung buổi tối có phân công giáo viên phụ trách; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh khá, giỏi cấp trung học cơ sở từ 49,77% lên mức 60% vào năm 2022; tăng cường phụ đạo tiếng Việt và lồng ghép giáo dục kỹ năng sống, văn hóa truyền thống dân tộc Tày, Nùng.

Thứ ba, hoàn thiện chính sách đãi ngộ và định biên nhân sự đặc thù. Sở Nội vụ phối hợp Sở Tài chính tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành cơ chế giao chỉ tiêu hợp đồng nhân viên nấu ăn có chứng chỉ an toàn thực phẩm cho 100% trường bán trú trước năm 2021; đồng thời chi trả đúng, đủ các chế độ phụ cấp thu hút, ưu đãi theo Nghị định số 116/2010/NĐ-CP và Nghị định số 61/2006/NĐ-CP cho 100% cán bộ, giáo viên cắm bản.

Thứ tư, mở rộng nguồn lực xã hội hóa và đẩy mạnh mô hình tăng gia sản xuất. Ban Giám hiệu các trường PTDTBT phối hợp cùng chính quyền xã và Hội Khuyến học địa phương vận động nhân dân đóng góp ngày công, mượn đất canh tác để tổ chức trồng rau xanh, chăn nuôi gia cầm tại chỗ; đặt mục tiêu tự cung cấp từ 20% đến 30% nhu cầu thực phẩm tươi sống cho bếp ăn bán trú đến năm 2025, vừa giảm chi phí vừa rèn luyện kỹ năng lao động cho học sinh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý giáo dục và nhà hoạch định chính sách công: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm và cơ sở khoa học để Sở Giáo dục và Đào tạo, Ban Dân tộc tỉnh Lạng Sơn và các địa phương vùng núi phía Bắc xây dựng đề án phân bổ ngân sách theo Nghị định số 116/2016/NĐ-CP và Nghị quyết số 52/NQ-CP.
  • Ban Giám hiệu và giáo viên các trường phổ thông vùng cao: Tài liệu tham khảo trực tiếp về mô hình quản lý học sinh nội trú, phương pháp tổ chức giờ tự học buổi tối, kinh nghiệm phòng chống tai nạn thương tích và giải pháp kết hợp dạy học văn hóa với giáo dục giá trị sống bản địa.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Khoa học Xã hội: Khung tham chiếu chuẩn mực về phương pháp phân tích chính sách công vi mô, quy trình xử lý dữ liệu giáo dục dân tộc thiểu số và cách thức tiếp cận vấn đề xã hội hóa giáo dục miền núi.
  • Các tổ chức phát triển, doanh nghiệp và nhà tài trợ an sinh xã hội: Định vị chính xác các "địa chỉ nghèo" về trang thiết bị dạy học hiện đại, nhu cầu nước sạch và chỗ ở nội trú tại 91 xã khó khăn thuộc tỉnh Lạng Sơn để thực hiện các dự án tài trợ đúng mục tiêu, đạt hiệu quả xã hội cao nhất.

Câu hỏi thường gặp

Trường Phổ thông dân tộc bán trú khác gì so với trường Phổ thông Dân tộc Nội trú? Trường PTDTBT là loại hình trường chuyên biệt cấp tiểu học và THCS đặt tại xã đặc biệt khó khăn, tiếp nhận học sinh định cư lâu dài không thể đi về trong ngày với tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số từ 50% trở lên và có từ 25% đến 50% học sinh ở bán trú. Trường PTDTNT là hệ thống nội trú hoàn toàn cấp huyện hoặc cấp tỉnh do Nhà nước đài thọ 100% chi phí nhằm đào tạo nguồn cán bộ cốt cán cho vùng đồng tộc.

Học sinh bán trú tại Lạng Sơn được hưởng mức hỗ trợ tài chính cụ thể như thế nào? Theo Nghị định số 116/2016/NĐ-CP và hướng dẫn của tỉnh Lạng Sơn, mỗi học sinh bán trú hàng tháng được nhận hỗ trợ tiền ăn bằng 40% mức lương cơ sở, hỗ trợ tiền nhà ở bằng 10% mức lương cơ sở nếu phải thuê trọ ngoài trường, cùng 15kg gạo/tháng trong thời gian tối đa 9 tháng mỗi năm học. Giai đoạn 2011 - 2018, tỉnh đã chi trả 43.790 triệu đồng tiền ăn đúng chế độ.

Nguyên nhân chính khiến chất lượng học sinh THCS bán trú chưa cao là gì? Số liệu thực tế chỉ ra học sinh giỏi THCS chỉ đạt 10,98% do địa bàn đi lại hiểm trở, 19% gia đình thuộc diện hộ nghèo thiếu điều kiện chăm sóc, giáo viên phải dạy trái môn ở các điểm trường lẻ và phần lớn các trường chưa thể tổ chức học buổi tối tập trung có giáo viên hướng dẫn do thiếu phòng học và ánh sáng đạt chuẩn.

Tình trạng cơ sở vật chất phòng ở bán trú của Lạng Sơn còn thiếu thốn ở mức độ nào? Toàn tỉnh hiện có hơn 8.000 học sinh có nhu cầu bán trú nhưng chỉ có 2.269 giường nằm (trong đó chỉ 1.737 giường dùng tốt). Do thiếu phòng ở nội trú kiên cố, có tới 4.892 học sinh phải thuê trọ nhà dân quanh trường và 10% số phòng học trên toàn tỉnh vẫn thuộc diện phòng học tạm, mượn.

Chính sách phát triển trường PTDTBT đóng góp gì cho an ninh biên giới Lạng Sơn? Mô hình trường PTDTBT giúp duy trì tỷ lệ huy động học sinh đạt trên 99%, xóa 100% tình trạng học ca 3 tại 91 xã vùng biên và khu vực III. Việc giữ chân học sinh học tập ổn định giúp nâng cao dân trí đồng bào Nùng, Tày, Dao, tạo nguồn cán bộ cơ sở tại chỗ, góp phần giữ vững an ninh quốc phòng trên 231,74 km đường biên giới quốc gia.

Kết luận

  • Hệ thống 101 trường PTDTBT tại tỉnh Lạng Sơn đã tạo bước đột phá trong việc ổn định mạng lưới giáo dục vùng cao, duy trì tỷ lệ chuyên cần trên 99% và bảo đảm công bằng xã hội trong tiếp cận tri thức.
  • Tồn tại điểm nghẽn lớn về cơ sở vật chất khi chỉ đáp ứng được 2.269 giường ngủ đạt chuẩn cho hơn 8.000 học sinh bán trú và chất lượng giáo dục mũi nhọn cấp THCS còn thấp với tỷ lệ giỏi chỉ đạt 10,98%.
  • Giải pháp trọng tâm giai đoạn 2018 - 2022 yêu cầu xóa bỏ 100% phòng học tạm, chuẩn hóa đội ngũ cấp dưỡng bán trú và tổ chức nền nếp tự học buổi tối có hướng dẫn chuyên môn.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của công trình là cung cấp hệ thống luận cứ thực chứng toàn diện về chu trình thực thi chính sách giáo dục dân tộc ở cấp tỉnh, làm bài học kinh nghiệm giá trị cho các địa phương miền núi trên toàn quốc.
  • Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và tổ chức xã hội cần tiếp tục đồng hành, ưu tiên phân bổ nguồn lực để hoàn thiện mô hình trường bán trú Lạng Sơn, hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững nguồn nhân lực dân tộc thiểu số theo tầm nhìn 2030.