Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Cả nước và các địa phương Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong hệ thống chính sách đối với vùng DTTS và vùng cao thì chính sách giáo dục đóng một vai trò quan trọng, được xem là phương tiện phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Kể từ những năm cuối của thế kỷ XX đến nay, việc tìm hiểu, khảo sát việc thực hiện và hiệu quả của chính sách giáo dục vùng DTTS nói chung bắt đầu được thực hiện, tuy nhiên số lượng các công trình này còn rất khiêm tốn (Nguyễn Ngọc Thanh 2012, trang 13- 14). Trong lịch sử phát triển, hệ thống trường lớp vùng cao có học sinh bán trú dân nuôi đã tồn tại từ sớm nhưng chủ trương phát triển hệ thống trường PTDTBT mới được bắt đầu từ năm 2010. Trước đó, một số bài viết, nghiên cứu nhỏ đặt ra vấn đề cần nghiên cứu khảo sát xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ cho học sinh trường PTDTBT cũng như phát triển hệ thống giáo dục này ở một số vùng và cả nước. Có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Hồng Thái (2007) “Nghiên cứu khảo sát xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ cho học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú”, Nguyễn Hồng Thái (2008) “Trường phổ thông dân tộc bán trú – sự nỗ lực sáng tạo cộng đồng để phát triển giáo dục bền vững vùng dân tộc và miền núi” ; bài viết của Trần Văn Thuật (2004) “Cần có cơ chế và chính sách hỗ trợ trường phổ thông dân tộc bán trú”; một số bài viết của tác giả Trương Xuân Cừ: “Trường bán trú dân nuôi: Khâu đột phá phát triển bền vững giáo dục vùng Tây Bắc” (2009), “Đề xuất một số giải pháp phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú khu vực Tây Bắc” (2009).
Khi chủ trương phát triển hệ thống trường PTDTBT được ban hành, đã có một số bài viết đề xuất giải pháp triển khai thực hiện thông tư 24/TT-BGDĐT về loại hình trường phổ thông dân tộc bán trú (Hà Đức Đà 2011). Sau một vài năm thực hiện Thông tư này, đã có một số nghiên cứu đánh giá bước đầu về thành công, thực trạng quản lý mô hình và chất lượng giáo dục của các trường cũng như đề xuất một số giải pháp nâng 6 cao chất lượng hoạt động hệ thống giáo dục này ở phạm vi một số địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Trong đó có thể kể đến các bài viết như: “Phát triển trường phổ thông dân tộc bán trú các tỉnh Tây Nguyên: Thành tựu và triển vọng” (Nguyễn Sỹ Thư 2012), “Một số vấn đề về công tác quản lí ở trường phổ thông dân tộc bán trú” (Nguyễn Thị Minh Nguyệt 2012), “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học ở Lào Cai” (Nguyễn Thị Hài 2013), “Nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường phổ thông dân tộc bán trú tỉnh Gia Lai” (Hồ Xuân Hồng 2014), “Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú ở các trường trung học phổ thông huyện Chiêm hóa, tỉnh Tuyên Quang” (Hoàng Thị Mai 2017). Từ góc độ ngành Dân tộc học/Nhân học, bài viết gần đây nhất “Các lợi ích của chương trình học tập nội trú ở trường học xã Sủng Thái, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang” của Nguyễn Thanh Tùng (2019) là một nghiên cứu trường hợp xem xét lợi ích thực tiễn của mô hình trường PTDTBT ở cấp xã, qua đó nêu lên sự cần thiết thúc đẩy các sáng tạo nhằm đa dạng hóa lợi ích của trường học địa phương trong chính sách giáo dục dân tộc.
Ngoài ra, trong thời gian qua, có hàng chục bài viết trên các báo: Nhân dân, Giáo dục và Thời đại, Dân trí, Tuổi trẻ và một số báo của các tỉnh cũng quan tâm, đề cập đến sự phát triển của mô hình này ở một số địa phương và trên quy mô cả nước: “Mô hình trường bán trú dân nuôi” (Thanh Sơn 2010), “Xây dựng trường phổ thông dân tộc bán trú: Những vấn đề cần quan tâm” (Lê Thị Liêm 2013), “Trường bán trú góp phần nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc” (Giáo dục và Thời đại 2016), “Quảng Nam: Dân góp gạo xây dựng mô hình trường “bán trú dân nuôi” (Đ. Bính 2017), “Thầy cô dựng nhà trọ cho học sinh” (Vũ Toàn 2016), “Niềm vui từ ngôi trường bán trú” (Đình Diệu 2015), … Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có những công trình chuyên sâu về chính sách phát triển cũng như hệ thống giáo dục này. Từ góc độ quản lý giáo dục, mới có một vài luận văn, luận án tiếp cận vấn đề quản lý học sinh bán trú dân nuôi và hoàn thiện có hiệu quả chính sách đối với học sinh dân tộc thiểu số ở một số địa phương, vùng như tỉnh Phú Thọ, khu vực Nam Trung Bộ (Lê Mã Lương 2017, Đinh Phương Lan 2018). Ở tỉnh Lạng Sơn 7 Qua nghiên cứu các nguồn tài liệu, tôi nhận thấy tại Lạng Sơn đến thời điểm hiện nay đã có hệ thống văn bản chỉ đạo của các cấp hướng dẫn ngành GDĐT và chính quyền địa phương thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi thành lập trường và yêu cầu nâng cao chất lượng trường PTDTBT.
Trong các tài liệu, văn bản của ngành GDĐT tỉnh Lạng Sơn, các phương tiện thông tin, truyền thông có các chuyên đề, bài viết phản ánh sâu sắc các quan điểm, nội dung và kết quả đạt được của công tác giáo dục dân tộc và thực hiện xây dựng hệ thống trường PTDTBT trên địa bàn toàn tỉnh. Song, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp về "Chính sách phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc bán trú tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2018-2022”. Từ tiếp cận góc độ chính sách công, nghiên cứu này mong muốn làm rõ thực trạng, hiệu quả đã đạt được trong việc phát triển hệ thống trường dân tộc bán trú ở vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Lạng Sơn, đồng thời đề xuất một số giải pháp cơ bản, thiết thực để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giáo dục đối với đồng bào dân tộc thiểu số mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra thông qua việc thực hiện tại địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Một số khái niệm 1.
Chính sách Trong luận văn này, có một số khái niệm về chính sách cần được làm rõ như sau: Chính sách là cách thức tác động có chủ đích của một nhóm, tập đoàn xã hội này vào nhóm, tập đoàn xã hội khác thông qua các thiết chế khác nhau của hệ thống chính trị nhằm thực hiện các mục tiêu đã được xác định trước. Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định của Đảng chính trị cầm quyền (Đỗ Phú Hải 2012, trang 32). Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tổng hợp các quan điểm, nguyên tắc, chủ trương, giải pháp tác động đến các dân tộc, vùng dân tộc, nhằm phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa các dân tộc theo hướng đảm bảo khối đại đoàn kết, thống nhất giữa các dân tộc và phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam (Hoàng Hữu Bình, Phan Văn Hùng 2013, trang 8). Phát triển 8 Có rất nhiều định nghĩa về phát triển.
Trở nên thịnh hành từ sau Thế chiến II, phát triển thường được xem là một cái gì đó tích cực, đáng mong muốn, đối với một xã hội, một khu vực, hoặc một nhóm người và thậm chí đối với cá nhân con người (Bùi Thế Cường, Đỗ Minh Khuê 2006, trang 67). Tuy nhiên, nghiên cứu này sử dụng khái niệm phát triển là sự mở mang rộng rãi, làm cho tốt hơn (Nguyễn Lân 1998) với ngụ ý mở rộng, nâng cao chất lượng mô hình, hệ thống trường phổ thông dân tộc bán trú tại tỉnh Lạng Sơn. Trường phổ thông dân tộc bán trú Trường/lớp Dân tộc bán trú (theo cách gọi của Luật giáo dục) là trường phổ thông tại vùng dân tộc và miền núi, có học sinh tiểu học và trung học cơ sở ăn ở, học tập tại trường chính ở trung tâm xã. Đây chủ yếu là số học sinh không có lớp học tại thôn bản, ở xa trường, không thể đi học và trở về trong ngày, tùy từng địa phương, học sinh có thể được tổ chức ăn, ở tập trung với sự trợ giúp của cộng đồng, chính quyền hoặc học sinh tự túc ăn ở với nhiều hình thức đan xem (Nguyễn Hồng Thái 2007, trang 87).
Tuy nhiên, cần có sự phân biệt khái niệm trường dân tộc bán trú với trường dân tộc nội trú và trường có học sinh bán trú dân nuôi. Quyết định số 49/QĐ-BGD&ĐT ngày 25/8/2008, về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTNT của BGD&ĐT đã ban hành hệ thống trường PTDTNT bao gồm: Trường PTDTNT cấp huyện đào tạo cấp THCS được thành lập tại các huyẹ̛n miền núi, hải đảo, vùng dân tộc; Trường PTDTNT cấp tỉnh đào tạo cấp THPT được thành lạ̛p tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Để đào tạo nguồn cán bợ là con em dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiẹ̛n kinh tế đạ̛c biêt khó kha̛n, Ủy ban nhân dân Tỉnh có thể giao cho trường PTDTNT cấp huyẹ̛n đào tạo cả cấp THPT; Bợ chủ quản có thể giao cho trường PTDTNT thuợc Bộ đào tạo dự bị đại học và cấp THCS.