CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO DỊCH KÝ QUỸ CHỨNG KHOÁN 1. Giới thiệu về hoạt động giao dịch ký quỹ chứng khoán 1. Khái niệm giao dịch ký quỹ chứng khoán Margin trading - Giao dịch ký quỹ chứng khoán: Là việc mua hoặc bán chứng khoán trong đó người đầu tư chỉ thực có một phần tiền hoặc chứng khoán, phần còn lại do công ty chứng khoán cho vay. Ký quỹ, vay mua chứng khoán: là khoản tiền đặt cọc của một khách hàng cho công ty chứng khoán khi họ thực hiện việc vay tiền mua chứng khoán.
Theo quy định của Hội đồng Dự trữ liên bang Mỹ, mức ký quỹ ban đầu thực thi từ năm 1945 yêu cầu số tiền ký quỹ từ 50 tới 100% lượng tiền mua chứng khoán. Vào giữa những năm 1990 mức ký quỹ tối thiểu là 50% lượng tiền mua chứng khoán hoặc bán khống chứng khoán, tính ra tiền mặt hoặc các chứng khoán được giao dịch hợp pháp, với mức tối thiểu là 2. Sau đó, các yêu cầu về ký quỹ duy trì đựơc Hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán (NASD) và Sở Giao dịch chứng khoán đặt ra và nhiều công ty chứng khoán cũng có các yêu cầu tương tự hoặc cao hơn. Giao dịch ký quỹ có hai loại: mua ký quỹ và bán khống.
Mua ký quỹ là việc nhà đầu tư mua cổ phiếu có sử dụng hạn mức tín dụng do công ty chứng khoán cấp. Nó được đảm bảo bằng khoản ứng trước bằng tiền thế chấp bằng chính cổ phiếu được mua. Vì vậy, thông thường những nhà đầu tư nào dự đoán giá tăng sẽ thực hiện giao dịch ký quỹ. Ví dụ: Nhà đầu tư A dự đoán giá của cổ phiếu XYZ tăng trong tương lai và muốn mua 3.000 cổ phiếu XYZ với giá 50.000 đồng/cổ phiếu nhưng chỉ có 75 triệu đồng trong tài khoản.
Nhà đầu tư A có thể vay CTCK nơi mở tài khoản 75 triệu đồng còn UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 2 thiếu (50% vốn). Lợi nhuận nhà đầu tư A đạt được là chênh lệch giữa giá bán và giá mua 3.000 cổ phiếu này trừ đi lãi suất vay của CTCK. Bán khống (short-selling) trong tài chính có nghĩa là một cách kiếm lợi nhuận từ sự kỳ vọng tụt giảm giá của một loại chứng khoán, ngoại tệ. Bán khống là bán một loại chứng khoán mà người bán không sở hữu tại thời điểm bán.
Cụ thể, họ vay chứng khoán để bán và sau đó mua lại chứng khoán với giá thấp hơn để trả cho người họ vay, phần chênh lệch giá thấp hơn đó mang lại lợi nhuận cho người bán khống. Sau đây tôi xin giới thiệu một số thuật ngữ dùng trong hoạt động giao dịch ký quỹ: - Tài khoản giao dịch ký quỹ: là tài khoản của khách hàng mở tại công ty chứng khoán để thực hiện các giao dịch ký quỹ chứng khoán - Tài khoản giao dịch thông thường: là tài khoản của khách hàng mở tại công ty chứng khoán để giao dịch chứng khoán nhưng không sử dụng tiền vay của công ty chứng khoán. - Dư nợ ký quỹ của khách hàng trên tài khoản giao dịch ký quỹ: là tổng số tiền khách hàng nợ công ty chứng khoán. - Tài sản thực có của khách hàng trên tài khoản giao dịch ký quỹ: bao gồm tiền mặt, giá trị các chứng khoán được phép kỹ quỹ trên tài khoản giao dịch ký quỹ tính theo giá thị trường trừ đi dư nợ ký quỹ.
- Tỷ lệ ký quỹ: là tỷ lệ giữa tài sản thực có so với tổng tài sản trên tài khoản giao dịch ký quỹ tính theo giá thị trường. - Tỷ lệ ký quỹ ban đầu: là tỷ lệ giữa tài sản thực có (trước khi thực hiện giao dịch) so với giá trị hợp đồng giao dịch (dự kiến thực hiện) tính theo giá thị trường. - Tỷ lệ ký quỹ duy trì: là tỷ lệ tối thiểu giữa tài sản thực có so với tổng tài sản trên tài khoản giao dịch ký quỹ tính theo giá thị trường. - Giá trị ký quỹ ban đầu (Initial Margin- IM): là giá trị ký quỹ ban đầu để có thể vay một số tiền nhất định của nhà môi giới (công ty môi giới) thực hiện giao dịch chứng UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 3 khoán.
Trong thực tế để đo giá trị ký quỹ ban đầu, người ta dùng khái niệm tỷ lệ ký quỹ ban đầu. - Ký quỹ hiện tại hay ký quỹ thực tế (Current liquidating margin - CLM ): là số tiền thực có của NĐT trong tài khoản ký quỹ sau khi thanh lý toàn bộ các trạng thái giao dịch theo thị giá và thanh toán nợ cho công ty môi giới và các loại phí - Giá trị ký quỹ tối thiểu (Minimum margin requirement- MMR): là giá trị ký quỹ tối thiểu quy định bởi luật pháp và mỗi công ty môi giới (nhà môi giới) để bảo đảm rủi ro cho những khoản vay với công ty môi giới (nhà môi giới) khi giá trị toàn bộ tài sản ký quỹ sụt giảm do biến động của giá cổ phiếu. - Tỷ lệ ký quỹ tối thiểu: khi CLM < MMR thì NĐT phải thanh lý bớt một số giao dịch hoặc bổ sung tiền vào tài khoản ký quỹ để CLM ≥ MMR. - Cảnh báo ký quỹ (Margin call): khi giá trị tài sản ký quỹ thấp hơn giá trị ký quỹ tối thiểu thì nhà môi giới sẽ gửi đến nhà đầu tư một thông báo gọi là cảnh báo ký quỹ.
Trong trường hợp này, nhà đầu tư phải ký quỹ bổ sung bằng tiền mặt, bán bớt một phần chứng khoán có trong tài khoản, hoặc mua một phần chứng khoán đã bán khống để đảm bảo tỷ lệ ký quỹ thực tế không nhỏ hơn tỷ lệ ký quỹ tối thiểu. - Ký quỹ bổ sung (Additional margin): Là số tài sản bổ sung vào tài khoản ký quỹ nhằm đảm bảo tỷ lệ ký quỹ tối thiểu. Lịch sử hình thành giao dịch ký quỹ Giao dịch ký quỹ có nguồn gốc từ thị trường tương lai về hàng hóa. Thị trường tương lai đã xuất hiện từ thời trung cổ, nó được phát triển để đáp ứng yêu cầu của giới nông dân và lái buôn.
Đi vào phân tích tình huống nông dân ở thời điểm thu hoạch trong tương lai, giá cả hàng hóa có thể rất cao nhưng cũng có thể rất thấp và điều này ảnh hưởng rất nhiều đến họ nhất là khi họ cần tiền. Và tương tự, giới lái buôn cũng chịu rủi ro khi giá cả hàng hóa biến động ở tương lai, trong khi họ là những người luôn cần hàng. Do vậy nông dân và lái buôn gặp nhau trước thời điểm thu hoạch để thỏa thuận giá cả cho thời điểm họ có hàng hoặc cần hàng trong tương lai. Điều đó có nghĩa UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 4 là họ đã thương lượng loại hợp đồng tương lai về hàng hóa – là loại hợp đồng cung cấp cách thức mua bán hàng hóa giữa các bên để có thể loại trừ rủi ro do giá cả hàng hóa không ổn định trong tương lai.
Sự phát triển của thị trường tương lai, kèm theo sự gia tăng những rủi ro dẫn đến việc xuất hiện hệ thống thanh toán bù trừ các giao dịch. Nền tảng của thanh toán bù trừ là một hệ thống tiền gửi hoặc bảo lãnh tiền gửi, được yêu cầu từ những người tham gia thị trường tương lai. Trong thực tế trao đổi, những khoản tiền gửi này được gọi là giao dịch kỹ quỹ, đó là số tiền mà khách hàng phải trả vào tài khoản của công ty môi giới khi anh ta thiết lập vị thế, được gọi là ký quỹ, tỷ lệ kỹ quỹ thường 1-10% giá trị hợp đồng tương lai. Từ hoạt động kỹ quỹ trong giao dịch hàng hóa đã được vận dụng sang các lĩnh vực tài chính khác như là chứng khoán (Giao dịch kỹ quỹ trên thị trường chứng khoán), ngoại tệ (Giao dịch ký quỹ at FOREX), vàng …và tiếp tục phát triển vào những năm 20 của đầu thế kỷ 20.
Ưu nhược điểm và rủi ro khi nhà đầu tư sử dụng giao dịch ký quỹ 1. Ưu điểm của giao dịch ký quỹ Trước hết là do tính chất đòn bẩy của giao dịch ký quỹ, cho phép NĐT giao dịch mua bán một số lượng chứng khoán lớn hơn nhiều lần chỉ với một khoản đặt cọc ít ban đầu, so với hình thức giao dịch hoàn toàn bằng tiền mặt. Khi NĐT phán đoán đúng tình hình thị trường, thì lợi nhuận từ giao dịch kỹ quỹ sẽ được khuyếch đại lên rất nhiều lần. Ngược lại, khi giá chứng khoán tăng, NĐT có thể rút bớt số tiền chênh lệch ra để kinh doanh tiếp hoặc tiêu dùng cho những mục đích cá nhân khác.
Thích hợp với những NĐT với số vốn ít nhưng có thể mua lượng chứng khoán nhiều hơn số tiền thực có. Cuối cùng là lợi nhuận từ tài khoản ký quỹ có thể được sử dụng tiếp để đặt cọc mua thêm chứng khoán. Nhược điểm của giao dịch ký quỹ đối với nhà đầu tư. Không phải tất cả các loại chứng khoán đều được mua bằng hình thức giao dịch ký quỹ.
Theo đó các chứng khoán vô danh, OTC, IPO (phát hành cổ phiếu lần đầu ra công UAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 5 chúng) không được phép mua bằng hình thức giao dịch kỹ quỹ. Điều này làm giới hạn danh mục đầu tư của các NĐT. Nhà đầu tư phải trả lãi và phí hoa hồng cho khoản vay nên nợ càng cao lãi phải trả càng nhiều. Điều này làm giảm thu nhập và vốn của NĐT.
NĐT không được quyền kéo dài thời gian của lệnh gọi ký quỹ. Đó là yêu cầu mà họ phải hoàn trả toàn bộ hoặc một phần nợ của họ bằng tiền mặt, hoặc nộp thêm chứng khoán từ bên ngoài vào tài khoản hoặc bán một số chứng khoán trong tài khoản của họ. CTCK có thể tăng những yêu cầu duy trì của nội bộ công ty để hạn chế bớt những rủi ro cho công ty bất cứ lúc nào mà không bắt buộc phải thông báo trước cho NĐT. Những thay đổi này có thể dẫn đến một lệnh gọi, nếu NĐT không đáp ứng được yêu cầu này công ty có thể thanh toán hoặc bán chứng khoán trong tài khoản của NĐT.
Trong trường hợp giá chứng khoán đang giảm, việc giải chấp chứng khoán để thu hồi nợ của CTCK có thể dẫn đến thua lỗ cho NĐT. Rủi ro của nhà đầu tư khi sử dụng giao dịch ký quỹ Nhà đầu tư có thể mất nhiều tiền hơn số họ đã đầu tư. Vì tài khoản giao dịch ký quỹ liên quan đến rủi ro thua lỗ cao hơn tài khoản tiền mặt và có thể thua lỗ nhiều hơn số tiền NĐT đã đầu tư ban đầu. NĐT có thể bị bắt buộc phải bán một phần hoặc tất cả chứng khoán khi giá chứng khoán giảm.