phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn có 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ tổ trƣởng chuyên môn ở trƣờng tiểu học. Thực trạng phát triển đội ngũ tổ trƣởng chuyên môn ở các trƣờng tiểu học huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Biện pháp phát triển đội ngũ tổ trƣởng chuyên môn ở các trƣờng tiểu học huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
e 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TỔ TRƢỞNG CHUYÊN MÔN Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài Phát triển đội ngũ TTCM cũng chính là phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với xã hội, đối với mỗi tổ chức nói chung và GD nói riêng, cho nên đã có rất nhiều công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở nƣớc ngoài về vấn đề này. Khái niệm “Vốn con ngƣời” (Human capital) và “Nguồn lực con ngƣời” (Human resources) đã xuất hiện ở Hoa Kỳ bởi nhà kinh tế học Theodor Schoultz những năm cuối thập kỷ 60, thế kỷ XX.
Từ những năm 1980, nhà xã hội học ngƣời Mỹ Leonard Nadle đã đƣa ra sơ đồ quản lí nguồn nhân lực, diễn tả mối quan hệ và các nhiệm vụ quản lí nguồn nhân lực. Kết quả nghiên cứu của ông đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới áp dụng vào việc quản lí và phát triển nguồn nhân lực [27]. Nhiều công trình nghiên cứu của Henry Mintzberg với những tƣ tƣởng hàng đầu về quản lí; Peter Ferdinand Drucker với những luận điểm lớn về tổ chức và lãnh đạo quản lí, luôn coi nguồn lực do năng lực con ngƣời mang lại là vấn đề trọng tâm, ngƣời lãnh đạo tìm thấy họ, động viên họ, sử dụng họ, đào tạo họ và khi cần thì sàng lọc là trung tâm tất cả những điều mà lý luận phát triển nguồn nhân lực đang bàn đến. Trong cuốn “Đầu tƣ vào tƣơng lai” (Investing in the Future), xuất bản năm 1990, ông Jacques Hallak - Chuyên gia GD công tác tại Viện Kế hoạch hóa Quốc tế đã nêu lên 5 nguồn “phát năng” cho sự phát triển con ngƣời, đó là: giáo dục và đào tạo; sức khỏe và dinh dưỡng; môi trường; việc làm; tự do chính trị và kinh tế.
Năm yếu tố này gắn kết với nhau trong đó GDĐT đƣợc coi là nhân tố quan trọng nhất, là biện pháp chủ yếu nhất để phát triển. Sự phát triển của GDĐT luôn gắn với sự phát triển ĐNTTCM là cơ bản của nguồn nhân lực trong nhà trƣờng cùng với sự phát e 8 triển kinh tế, văn hóa, xã hội (theo tác giả Lê Khánh Tuấn, giáo trình Dự báo và Kế hoạch hoá trong quản lý giáo dục, NXBGDVN, 2018). Công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực rất nhiều và lý thuyết về quản lí nguồn nhân lực đã đƣợc định hình, thống nhất ở một số cách tiếp cận cơ bản. Điểm chung về phát triển ĐNTTCM trong trƣờng Tiểu học chính là phát triển con ngƣời trong một tập hợp có tính liên kết nào đó (một tổ chức, một ngành hay một quốc gia) với các đặc trƣng cơ bản: ĐT, BD để phát triển cá nhân; tuyển dụng, bố trí, sử dụng; xây dựng, tạo môi trƣờng cho phát triển ĐNTTCM.
Đó chính là điểm tựa để tác giả triển khai nghiên cứu phát triển đội ngũ TTCM ở trƣờng tiểu học. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lí phát triển nguồn nhân lực trong đó có đề cập ĐNTTCM ở nƣớc ta nhƣ trong cuốn“Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” của tác giả Trần Khánh Đức (2009); “Phát triển nguồn nhân lực, phát triển con người” của Đặng Quốc Bảo (2009); Tạp chí Giáo dục số 256, tháng 2/2011 của tác giả Nguyễn Ngọc Phú nghiên cứu về “Quan điểm xây dựng, phát triển nguồn nhân lực và nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội ở nước ta hiện nay”; Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 193, tháng 7/2013 của tác giả Ngô Quỳnh An có bài nghiên cứu trao đổi về “Cách tiếp cận nguồn nhân lực trong tổ chức” hay trong Tạp chí số 365, tháng 9/2015 của tác giả Nguyễn Vinh Hiển nghiên cứu về “Đào tạo phát triển nguồn nhân lực giáo dục tiểu học đáp ứng công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” v. Mỗi công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau về nguồn nhân lực nhƣng nhìn tổng thể, các công trình nghiên cứu trên đã khẳng định vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển Kinh tế - Xã hội; thống nhất cơ bản với các nghiên cứu của thế giới về nội dung phát triển nguồn nhân lực và đề xuất các giải pháp sáng tạo vào hoàn cảnh nƣớc ta. Về vấn đề quản lí và phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học nói chung và TTCM nói riêng đã thu hút đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả.
Các nhà nghiên cứu đều khẳng định đội ngũ GV nói chung, đội ngũ TTCMTH nói riêng có e 9 vị trí, vai trò quan trọng, quyết định việc nâng cao chất lƣợng giáo dục. Họ cũng đã khẳng định phát triển đội ngũ giáo viên trong đó có TTCM ở các trƣờng là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Việc phát triển đội ngũ TTCM không thể tách rời phát triển đội ngũ GV. Gần đây nhất, tác giả Lê Khánh Tuấn trong cuốn sách chuyên khảo “Phát triển đội ngũ giáo viên trƣớc yêu cầu đổi mới chƣơng trình giáo dục phổ thông” (NXB Đại học Huế, 2019) đã đặt ra các yêu cầu cơ bản đối với ĐNGV, xem đó là điều kiện để thực hiện thành công chƣơng trình giáo dục mới và nhấn mạnh rằng để hình thành các nội dung đó, TCM đóng vai trò rất quan trọng và điều đó cũng chính là yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển đội ngũ TTCM.
TCM và TTCM phải là nòng cốt trong phát triển chuyên môn của GV để họ không ngừng học tập, nhằm đạt tới các phẩm chất sau: - Trƣớc hết, ngƣời GV phổ thông phải đạt đƣợc các yêu cầu về phẩm chất, năng lực đặt ra cho một công dân trƣớc bối cảnh của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và cách mạng công nghiệp 4. - Đủ kiến thức và năng lực sƣ phạm để đổi mới PPDH, chuyển từ DH tri thức sang DH theo hƣớng phát triển năng lực HS, dạy phƣơng pháp tƣ duy. - Đủ năng lực để dạy HS tự khám phá kiến thức và áp dụng tri thức học đƣợc để khám phá những vấn đề thực của cuộc sống với việc sử dụng các công cụ dạy học hiện đại, các thiết bị công nghệ 4.0; thực hiện tốt và hiệu quả cho học sinh về các trụ cột về việc học của UNESCO: Học để làm (learning to do), học để biết (learning to know), học để khẳng định mình (learning to be) và học để cùng chung sống (learning to live together). - Đủ kiến thức và kỹ năng để đa dạng hóa phƣơng thức tổ chức dạy học, đáp ứng yêu cầu của chƣơng trình giáo dục phổ thông mới.
- GV đƣợc trang bị kiến thức và phƣơng pháp để thực hiện đánh giá kết quả GD và phát triển chƣơng trình GD. - GV phải học để tối thiểu đạt chuẩn và vƣợt chuẩn đào tạo. - Trƣờng học phải đánh giá đúng thực chất mức độ đạt chuẩn nghề nghiệp e 10 của GV. Ngƣời GV cần lấy các tiêu chuẩn, tiêu chí của chuẩn nghề nghiệp để phấn đấu tự học, tự rèn luyện, không ngừng nâng cao chất lƣợng.
Công tác phát triển đội ngũ TTCMTH với tƣ cách là nguồn nhân lực chất lƣợng cao là vấn đề đƣợc các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm, nhất là trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT. Đặc biệt trong thời điểm hiện nay chúng ta đang tiến hành chƣơng trình phổ thông 2018 thì vai trò của TTCM càng quan trọng hơn bao giờ hết. Các nhà nghiên cứu, nhà quản lí đã đƣa ra những mặt lý luận khá đầy đủ và có tính hệ thống; về mặt thực tiễn đã có những nghiên cứu sâu, đề xuất một số giải pháp để phát triển đội ngũ GVTH ở một số địa phƣơng. Đây là cơ sở để tác giả tham khảo và vận dụng cho nghiên cứu trong đề tài.
Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu công tác phát triển đội ngũ TTCM đều tập trung vào việc phát triển đội ngũ - là một trong những nội dung của công tác quản lí đội ngũ. Song, ở địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đến thời điểm hiện tại chƣa có công trình nghiên cứu về phát triển ĐNTTCM ở trƣờng TH. Việc khai thác tổng hợp sơ đồ quản lí nguồn nhân lực và kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có, nhƣng đồng bộ hóa hệ thống giải pháp phát triển ĐNTTCM ở trƣờng tiểu học huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định còn bỏ ngỏ. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn, góp phần nâng cao số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu đội ngũ TTCM huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lí Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo Dục, 1998) quản lí là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan; F.W Taylor cho rằng quản lí là biết chính xác điều muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.Koontz thì khẳng định quản lí là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động mỗi cá nhân nhằm đạt đƣợc mục đích của nhóm (tổ chức). Theo tác giả Trần Ngọc Giao thì:“Quản lí là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch hành động (bao gồm cả xác định mục tiêu cụ thể, chế định kế hoạch, e 11 quy định tiêu chuẩn đánh giá và thể chế hóa), sắp xếp tổ chức (bố trí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công việc, điều phối nguồn lực tài chính và kỹ thuật…), chỉ đạo, điều hành, kiểm soát và đánh giá kết quả, sửa chữa sai sót (nếu có) để bảo đảm hoàn thành mục tiêu của tổ chức đã đề ra” [16, tr. Qua các định nghĩa trên, có thể hiểu khái niệm quản lí bao gồm các nội hàm chủ yếu: Quản lí là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch, sắp xếp tổ chức, phân phối nguồn lực, chỉ đạo, điều hành và kiểm soát, đánh giá… nhằm vận hành tổ chức một cách hiệu quả nhất để đảm bảo đạt đƣợc mục tiêu đề ra.