chương I). Vai trò của CNTT Đối với sự phát triển của khoa học và công nghệ CNTT giúp cho kho tri thức của nhân loại giàu lên nhanh chóng cũng như hỗ trợ con người tiếp cận với những kiến thức đó nhanh và hiệu quả hơn. Nói cách khác, CNTT giúp giảm thiểu tối đa thời gian và thu hẹp tối đa không gian cho việc tiếp cận thông tin tri thức. Từ đó, thúc đẩy sự phát triển của các ngành khoa học và công nghệ.
Đối với phát triển kinh tế - xã hội Sự phát triển nhanh chóng của CNTT đã tạo ra những tác động to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. 14 CNTT tạo cơ hội cho các phát minh, sáng chế được phổ biến rộng hơn và ứng dụng nhanh hơn trong thực tiễn. Từ đó làm cho năng suất lao động trong xã hội được nâng lên CNTT trở thành công cụ hiệu quả cho hoạt động quản lý, giúp cho các quá trình quản lý trong hoạt động kinh tế - xã hội được thu gọn, giảm bớt các bước trung gian mà vẫn đảm bảo tính kịp thời và chặt chẽ. CNTT đã làm cho cơ cấu nghề nghiệp trong xã hội biến đổi rất nhanh.
Một số ngành nghề truyền thống đã bị vô hiệu hóa, thậm chí bị xoá bỏ (chẳng hạn như một số tờ báo uy tín như The New York Times, Financial Times Deutschland,… đã dừng phát hành bản in); đồng thời nhiều ngành nghề mới, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ được hình thành và phát triển (như mua bán trực tuyến, thư viện điện tử.) Đối với hoạt động quản lý xã hội Xã hội càng phát triển các mối quan hệ ngày càng nhiều, độ phức tạp càng lớn làm cho việc quản lý xã hội ngày càng trở nên khó khăn hơn. Sự ra đời, phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo nên một phương thức quản lý xã hội mới, hiện đại là quản lý bằng Chính phủ điện tử. Chính phủ điện tử là ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) để các cơ quan của chính quyền từ trung ương và địa phương đổi mới, làm việc có hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn; cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho người dân thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý Nhà nước. Sự quan tâm của Chính phủ đối với CNTT Phát biểu khai mạc Diễn đàn cấp cao CNTT-TT Việt Nam năm 2013 (Vietnam ICT Summit 2013) đã diễn ra vào ngày 20 tháng 6 năm 2013 tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cho biết: Từ năm 2000, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng phát triển 15 CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Trong đó xác định CNTT là một trong những động lực quan trọng nhất của phát triển, góp phần làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Hơn 10 năm qua, CNTT đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp trực tiếp gần 7% GDP của đất nước, có tác động lan tỏa thúc đẩy phát triển nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế xã hội. Việt Nam đã có vị trí trên bản đồ CNTT thế giới. Tuy nhiên, với góc nhìn tổng thể về năng lực cạnh tranh và phát triển của quốc gia, Thủ tướng lưu ý: Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức như kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng tăng trưởng còn thấp, hiệu quả đầu tư chưa cao, cải cách hành chính còn chậm, không ít chỉ số cạnh tranh quốc gia của Việt Nam còn thua kém một số nước trong khu vực.
Trong bối cảnh hiện nay, Thủ tướng cho rằng CNTT là một phương thức phát triển mới giúp Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đưa Việt Nam thoát nguy cơ tụt hậu, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để CNTT thực sự trở thành nền tảng của phương thức phát triển mới, Chính phủ yêu cầu các các Bộ, ngành, địa phương, và cộng đồng doanh nghiệp, các chuyên gia, nhà nghiên cứu cùng triển khai 7 nội dung, cụ thể: Một là, nâng cao nhận thức, quán triệt quan điểm CNTT là 1 nền tảng của phương thức phát triển mới trong các cấp quản lý, các ngành kinh tế xã hội, trong mỗi doanh nghiệp và toàn xã hội. Phát triển và ứng dụng CNTT trong sản xuất, kinh doanh và quản lý, hướng tới mục tiêu nâng cao toàn diện năng lực cạnh tranh quốc gia, coi 16 đây là con đường ngắn nhất để Việt Nam tiến kịp các nước phát triển, tiến cùng thời đại. Hai là, xây dựng hệ thống hạ tầng thông tin quốc gia, ban hành chuẩn thông tin quốc gia, bảo đảm khả năng kết nối liên thông đồng bộ, chú trọng công tác an ninh, an toàn bảo mật thông tin quốc gia.
Ba là, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, làm chủ các bí quyết, giải pháp công nghệ mới, ưu tiên đào tạo phát triển nguồn nhân lực CNTT của từng ngành, lĩnh vực, từng địa phương, doanh nghiệp và của cả quốc gia. Bốn là, xây dựng cơ chế chính sách tạo thuận lợi và hiệu quả cao nhất nhằm đảm bảo việc ứng dụng CNTT trở thành một yêu cầu tiên quyết trong mọi ngành, lĩnh vực, mọi công trình, dự án đầu tư trong tiến trình phát triển. Năm là, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển thị trường CNTT, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước và xây dựng năng lực cạnh tranh, vươn ra thị trường ngoài nước. Sáu là, tăng cường hợp tác quốc tế, huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài để phát triển CNTT.
Bảy là, phát triển và ứng dụng CNTT được coi là nhiệm vụ quan trọng của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội. Người đứng đầu tất cả các cấp, ngành, cơ quan, đơn vị phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về triển khai ứng dụng hiệu quả CNTT vì mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Phân loại Doanh nghiệp CNTT DNCNTT được hiểu là DN hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp CNTT, ngành kinh tế - kỹ thuật công nghệ cao sản xuất và cung cấp sản phẩm công nghệ thông tin, bao gồm sản phẩm phần cứng, phần mềm và nội dung thông tin số. 17 Phần cứng là sản phẩm thiết bị số hoàn chỉnh; cụm linh kiện; linh kiện; bộ phận của thiết bị số, cụm linh kiện, linh kiện.
Sản phẩm thiết bị số là thiết bị điện tử, máy tính, viễn thông, truyền dẫn, thu phát sóng vô tuyến điện và thiết bị tích hợp khác được sử dụng để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số. Bao gồm, thiết bị điện tử nghe nhìn; thiết bị điện tử gia dụng; thiết bị điện tử chuyên dùng; và thiết bị thông tin - viễn thông, đa phương tiện. Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã hóa hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định. Sản phẩm phần mềm là phần mềm và tài liệu kèm theo được sản xuất và được thể hiện hay lưu trữ ở bất kỳ một dạng vật thể nào, có thể được mua bán hoặc chuyển giao cho đối tượng khác khai thác, sử dụng.
Sản phẩm nội dung thông tin số là sản phẩm nội dung, thông tin bao gồm văn bản, dữ liệu, hình ảnh, âm thanh được thể hiện dưới dạng số, được lưu giữ, truyền đưa trên môi trường mạng. Dịch vụ nội dung thông tin số là dịch vụ được cung cấp trên môi trường mạng hoạt động trực tiếp hỗ trợ, phục vụ việc sản xuất, khai thác, phát hành, nâng cấp, bảo hành, bảo trì sản phẩm nội dung thông tin số và các hoạt động tương tự khác liên quan đến nội dung thông tin số.1 Việc phân loại DNCNTT thường được dựa trên các sản phẩm của DN. Do đó, có DNCNTT phần cứng, DNCNTT phần mềm và DNCNT sản phẩm nội dung số. So sánh với khái niệm và đặc điểm của DNKHCN (trình bày tại mục 1.1) có thể thấy có nhiều DNCNTT đáp ứng các tiêu chí của một DNKHCN.
Điều này xuất phát từ thực tiễn là nhiều DNCNTT tổ chức sản xuất, kinh doanh khởi nguồn từ ứng dụng hoặc sử dụng công nghệ, bí quyết công nghệ được tạo ra từ kết quả nghiên cứu của các 1 Cẩm nang doanh nghiệp công nghệ thông tin. 18 viện nghiên cứu, trường đại học hay bất kỳ tổ chức, cá nhân nào có hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ (nghĩa là, các DNCNTT đó chính là DNKHCN hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin – truyền thông). Như vậy, có cơ sở thực tiễn để nghiên cứu các biện pháp thúc đẩy hoạt động đăng ký là DNKHCN cho đối tượng DNCNTT. Từ đó giúp các DNCNTT tận dụng được các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với các DNKHCN để tăng trưởng hiệu quả, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Vai trò của DN KH&CN đối với phát triển KH&CN và kinh tế xã hội 1. Vai trò của DN KH&CN đối với phát triển KH&CN 1. Đẩy nhanh ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh Do hoạt động chính của doanh nghiệp KH&CN là sản xuất, kinh doanh các sản phẩm là kết quả của nghiên cứu KH&CN nên vấn đề gắn kết giữa nghiên cứu ứng dụng với tổ chức sản xuất trong thực tiễn trong doanh nghiệp KH&CN đương nhiên nằm trong một quy trình liên tục và chặt chẽ. Bên cạnh đó, doanh nghiệp KH&CN còn tham gia vào quá trình chuyển giao công nghệ cho các tổ chức kinh tế - xã hội bên ngoài.
Thông qua các hoạt động này sẽ tạo điều kiện để thúc đẩy nhanh quá trình chọn lọc và ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực tế, ở nhiều doanh nghiệp KH&CN có quy mô lớn, vấn đề đẩy nhanh tốc độ chọn lọc và ứng dụng các kết quả nghiên cứu KH&CN vào sản xuất, kinh doanh luôn được quan tâm. Sự kết hợp nhịp nhàng, hiệu quả giữa những kết quả nghiên cứu phát triển đột phá và sản xuất, kinh doanh đã góp phần tạo nên nhiều thương hiệu lớn như Apple (Mỹ), Mycrosofl (Mỹ), SamSung (Hàn Quốc), FPT (Việt Nam)… 19 1.