Tổng quan nghiên cứu

Theo Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020, Chính phủ Việt Nam đã đặt mục tiêu hình thành 3.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ vào năm 2015 và đạt 5.000 doanh nghiệp vào năm 2020. Trong bối cảnh ngành công nghệ thông tin đang phát triển bùng nổ, đóng góp trực tiếp gần 7% GDP quốc gia và giữ vai trò động lực cốt lõi trong đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, số lượng doanh nghiệp công nghệ thông tin được công nhận là doanh nghiệp khoa học và công nghệ trên thực tế vẫn còn rất hạn chế. Đây là rào cản lớn khiến các tổ chức công nghệ chưa thể tiếp cận trọn vẹn những ưu đãi đặc thù từ Nhà nước nhằm đẩy mạnh hoạt động đổi mới sáng tạo.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh với đề tài nghiên cứu về phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin tại Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ (NATEC) tập trung làm rõ căn nguyên khiến số lượng đăng ký còn thấp, đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp thúc đẩy quy trình công nhận loại hình doanh nghiệp này. Phạm vi nghiên cứu khảo sát trực tiếp trên nhóm đại diện gồm 150 doanh nghiệp công nghệ thông tin tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2013.

Nghiên cứu mang giá trị thực tiễn to lớn trong việc tham vấn chính sách cho NATEC và Bộ Khoa học và Công nghệ, hỗ trợ hoàn thiện khung pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ vốn đang tồn tại thời gian xử lý thủ tục kéo dài tối thiểu 19 tháng. Đề tài mở ra cơ hội giúp các doanh nghiệp phần mềm và dịch vụ số tối ưu hóa mức thuế suất ưu đãi thu nhập doanh nghiệp 10% trong 15 năm, nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp tích cực vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý luận quản trị:

Lý thuyết vòng đời phát triển doanh nghiệp định hướng mục tiêu xã hội và công nghệ, chia quá trình tiến hóa của doanh nghiệp thành 4 giai đoạn nền tảng: phát triển và đánh giá ý tưởng; khởi nghiệp và lập kế hoạch; tập trung và củng cố; phát triển và mở rộng quy mô.

Lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nền tảng tri thức và đổi mới sáng tạo, nhấn mạnh vai trò của hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) trong việc tạo dựng lợi thế cạnh tranh dài hạn.

Mô hình hệ sinh thái vườn ươm doanh nghiệp và thúc đẩy kinh doanh quốc tế, điển hình là kinh nghiệm từ Hoa Kỳ và Hàn Quốc trong việc giảm thiểu rủi ro thương mại hóa công nghệ.

Về mặt khái niệm pháp lý, nghiên cứu căn cứ vào Điều 58 Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, Nghị định số 80/2007/NĐ-CP và Nghị định số 96/2010/NĐ-CP. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ được xác định là doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm, hàng hóa hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp.

Song song đó, khái niệm doanh nghiệp công nghệ thông tin được chuẩn hóa theo Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11, phân chia theo 3 nhóm sản phẩm chính gồm phần cứng, phần mềm và nội dung thông tin số. Bài học kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng tại Trung Quốc, khoảng 2% doanh nghiệp khoa học và công nghệ đóng góp gần 20% GDP; tại Hoa Kỳ mô hình này tạo ra khoảng 36% GDP và tại Nhật Bản đạt mức 41% GDP.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập từ cuộc điều tra, khảo sát thực tế trên cỡ mẫu 150 doanh nghiệp công nghệ thông tin đang hoạt động tại Việt Nam thông qua phiếu điều tra chuẩn hóa và phỏng vấn sâu các chuyên gia, nhà quản lý tại NATEC.
  • Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện, đảm bảo phản ánh đầy đủ các loại hình pháp lý: 40,5% là công ty trách nhiệm hữu hạn, 40% là công ty cổ phần, 10% là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và 9,5% thuộc các loại hình khác. Về thâm niên, 49,5% doanh nghiệp đã hoạt động trên 5 năm và 40% hoạt động từ 3 đến 5 năm.
  • Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của Bộ Khoa học và Công nghệ cùng số liệu hoạt động của các doanh nghiệp tiêu biểu như CMC, BKAV, MISA, FAST giai đoạn 2011 - 2013.

Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chiếu và tổng kết thực nghiệm được lựa chọn nhằm bóc tách chân thực bức tranh tài chính, thực trạng đầu tư R&D, rào cản thủ tục hành chính, từ đó làm cơ sở khách quan để đề xuất các giải pháp khả thi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu từ 150 doanh nghiệp khảo sát đã chỉ ra 4 phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, tăng trưởng doanh thu vượt trội nhưng đầu tư cho R&D còn khiêm tốn. Có 60% doanh nghiệp khảo sát ghi nhận sự gia tăng doanh thu qua các năm, chỉ 23% sụt giảm. Điển hình tại Công ty Cổ phần CMC, doanh thu tăng trưởng 46,1% từ mức 160,78 tỷ đồng năm 2011 lên 234,90 tỷ đồng năm 2013 với tốc độ tăng trưởng năm 2013 đạt 31,39%. Tại Công ty Cổ phần BKAV, doanh thu tăng từ 179,08 tỷ đồng lên 236,78 tỷ đồng. Dù vậy, chỉ có 32,5% doanh nghiệp tăng vốn cho R&D và vỏn vẹn 3% doanh nghiệp có quỹ nghiên cứu chuyên biệt.

Thứ hai, lực lượng lao động chất lượng cao mở rộng nhưng nhân sự R&D chuyên sâu chiếm tỷ lệ thấp. Mặc dù 60% doanh nghiệp mở rộng quy mô lao động và 45% tăng nhân sự trình độ đại học trở lên, đội ngũ trực tiếp làm R&D vẫn rất mỏng. Tại BKAV, trong tổng số 938 nhân sự chỉ có khoảng hơn 33% kỹ sư chuyên trách R&D, phần còn lại phục vụ kinh doanh và vận hành.

Thứ ba, rào cản lớn về xác lập quyền sở hữu trí tuệ và thủ tục chứng nhận. Dù có hơn 70% doanh nghiệp chủ động cải tiến chất lượng và mẫu mã sản phẩm, việc chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp kết quả nghiên cứu gặp trở ngại lớn do quy trình cấp văn bằng bảo hộ kéo dài tối thiểu 19 tháng, dẫn đến tâm lý e ngại hoàn thiện hồ sơ đăng ký doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Thứ tư, hiệu quả tài chính bứt phá sau khi được công nhận. Lợi nhuận sau thuế của CMC trong lĩnh vực phần mềm tăng từ 27 tỷ đồng năm 2011 lên hơn 43 tỷ đồng năm 2013, tương đương mức tăng 59,2% nhờ hưởng các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và giảm thiểu chi phí đầu vào.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm phản ánh rõ nét sự thiếu đồng bộ giữa chính sách vĩ mô và thực tiễn triển khai. Doanh nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ (35% có vốn điều lệ từ 5 đến 20 tỷ đồng, 30% trên 20 tỷ đồng), sở hữu tốc độ tăng trưởng doanh thu cao nhưng thiếu nguồn lực duy trì nghiên cứu dài hạn. Dữ liệu thực trạng này có thể được biểu diễn một cách trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh tương quan giữa tốc độ tăng trưởng doanh thu và tỷ lệ trích lập ngân sách cho R&D giai đoạn 2011 - 2013, kết hợp bảng thống kê phân loại cơ cấu nhân sự chuyên trách.

So sánh với mô hình quốc tế, tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp sống sót sau 5 năm tại các vườn ươm Hoa Kỳ đạt tới 87% (ngược lại với 80% doanh nghiệp nhỏ thông thường bị phá sản), với tỷ lệ gọi vốn thành công qua mô hình Accelerator đạt từ 50% đến 80%. Tại Việt Nam, sự thiếu vắng các quỹ đầu tư mạo hiểm công - tư và cơ chế định giá tài sản trí tuệ là nguyên nhân trực tiếp khiến hoạt động thương mại hóa sáng chế bị nghẽn lại, kìm hãm số lượng doanh nghiệp đăng ký chứng nhận khoa học và công nghệ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thực hiện hóa mục tiêu phát triển số lượng và chất lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong ngành công nghệ thông tin, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách ưu đãi tài chính. Bộ Khoa học và Công nghệ cần chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính sửa đổi Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV và Thông tư liên tịch số 17/2012/TTLT-BKHCN-BTC-BNV. Cơ quan chức năng cần cụ thể hóa chính sách áp dụng mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 10% trong 15 năm, miễn thuế tối đa 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo cho các doanh nghiệp công nghệ thông tin được cấp chứng nhận, hoàn thành việc sửa đổi hướng dẫn trong lộ trình 2015 - 2017.

Thứ hai, đơn giản hóa và rút ngắn quy trình cấp giấy chứng nhận. NATEC cần phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ xây dựng quy chế liên thông một cửa, ban hành tiêu chí đánh giá đặc thù cho sản phẩm phần mềm và nội dung số, cắt giảm thời gian thẩm định quyền sở hữu trí tuệ từ mức tối thiểu 19 tháng xuống còn 6 đến 9 tháng đối với các sản phẩm công nghệ trọng điểm.

Thứ ba, thiết lập Quỹ đầu tư mạo hiểm và mạng lưới vườn ươm công nghệ. Nhà nước cần bố trí vốn mồi và huy động nguồn lực xã hội hóa để hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ, dành tỷ trọng 20% đến 30% nguồn vốn tài trợ cho các vườn ươm doanh nghiệp công nghệ thông tin theo mô hình Accelerator trong giai đoạn 2016 - 2020.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông và đào tạo năng lực quản trị công nghệ. NATEC cần định kỳ tổ chức từ 10 đến 15 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm cho ít nhất 500 lượt lãnh đạo doanh nghiệp công nghệ thông tin về quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đăng ký doanh nghiệp khoa học và công nghệ cùng phương pháp định giá tài sản vô hình.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao, là nguồn tư liệu chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ: Lãnh đạo và chuyên viên tại NATEC, Bộ Khoa học và Công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ các địa phương sử dụng kết quả khảo sát 150 doanh nghiệp để tham mưu hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và cải cách thủ tục hành chính.
  • Ban lãnh đạo doanh nghiệp công nghệ thông tin: Các giám đốc điều hành, giám đốc công nghệ (CTO) của các công ty phần mềm, dịch vụ số nắm bắt điều kiện pháp lý, định hình chiến lược R&D và xây dựng hồ sơ hưởng gói ưu đãi thuế 10% trong 15 năm.
  • Ban quản lý vườn ươm và các quỹ đầu tư: Các trung tâm ươm tạo tại các khu công nghệ cao và trường đại học tham khảo mô hình Accelerator quốc tế với tỷ lệ thành công 50% - 80% để tối ưu hóa quy trình hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Các cá nhân thuộc chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý kinh tế và Quản lý khoa học công nghệ sử dụng dữ liệu thực chứng 2011 - 2013 làm tiền đề phát triển các đề tài mở rộng.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp công nghệ thông tin cần đáp ứng điều kiện cốt lõi nào để được cấp chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ? Doanh nghiệp phải thành lập theo Luật Doanh nghiệp, có năng lực thực hiện nhiệm vụ R&D và chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp kết quả nghiên cứu. Đồng thời, doanh thu từ sản phẩm, dịch vụ hình thành từ kết quả này phải đạt tỷ lệ tối thiểu theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013.

Doanh nghiệp công nghệ thông tin được hưởng ưu đãi thuế cụ thể ra sao khi được cấp chứng nhận? Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Nghị định số 124/2008/NĐ-CP, doanh nghiệp được hưởng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm, được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp tối đa 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo tính từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế.

Nguyên nhân chính khiến phần lớn doanh nghiệp công nghệ thông tin chưa đăng ký chứng nhận là gì? Trở ngại lớn nhất nằm ở thủ tục xác lập quyền sở hữu trí tuệ kéo dài tối thiểu 19 tháng cùng tâm lý e ngại quy trình hành chính phức tạp. Ngoài ra, chỉ 3% doanh nghiệp khảo sát có quỹ R&D riêng nên việc chứng minh nguồn gốc công nghệ còn gặp nhiều lúng túng.

Hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ có tác động ra sao đến hiệu quả kinh doanh? Khảo sát thực tế cho thấy 60% doanh nghiệp đầu tư công nghệ đạt mức tăng trưởng doanh thu ấn tượng, tiêu biểu như CMC đạt mức tăng 31,39% trong năm 2013. Lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng trưởng trên 50% nhờ tối ưu hóa chi phí sản xuất và chính sách miễn giảm thuế.

Kinh nghiệm quốc tế nào về vườn ươm công nghệ có thể áp dụng hiệu quả tại Việt Nam? Việt Nam nên tiếp thu mô hình Thúc đẩy doanh nghiệp (Accelerators) của Hoa Kỳ với thời gian ươm tạo rút ngắn từ 3 đến 6 tháng, gắn liền với quỹ đầu tư mạo hiểm. Mô hình này giúp tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận vốn đạt từ 50% đến 80% và 87% doanh nghiệp duy trì vận hành ổn định sau 5 năm.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng hoạt động của 150 doanh nghiệp công nghệ thông tin tại Việt Nam, chỉ ra khoảng cách lớn giữa tiềm năng phát triển ngành và số lượng doanh nghiệp được cấp chứng nhận khoa học và công nghệ.
  • Nghiên cứu chứng minh tính ưu việt của mô hình doanh nghiệp khoa học và công nghệ thông qua các minh chứng thực tế như mức tăng trưởng lợi nhuận 59,2% tại CMC và doanh thu hơn 236 tỷ đồng tại BKAV.
  • Xác định rào cản cốt lõi nằm ở quy trình bảo hộ sở hữu trí tuệ kéo dài tối thiểu 19 tháng và cơ chế trích lập quỹ R&D còn hạn chế khi chỉ có 3% doanh nghiệp thực hiện.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gồm hoàn thiện ưu đãi thuế 10% trong 15 năm, cắt giảm thủ tục hành chính xuống 6 - 9 tháng, thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm và đẩy mạnh truyền thông giai đoạn 2016 - 2020.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc phục vụ công tác quản lý nhà nước tại Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ (NATEC).

Các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp công nghệ thông tin hãy cùng khai thác những phát hiện và giải pháp từ luận văn này nhằm thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình thương mại hóa sáng chế, tạo đòn bẩy bứt phá cho nền kinh tế tri thức Việt Nam trong kỷ nguyên số.