đặt vấn đề từ việc phân biệt ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ, đồng thời nêu lên ưu việt của việc phát triển ngân hàng bán lẻ đối với các NHTM trong việc phân bổ chí phí cũng như hạch toán giá thành và giá bán, tác giả cũng nêu rõ thực trạng hoạt động hiện nay của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu, từ đó làm cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển dịch vụ bán lẻ nói chung và phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ nói riêng, chiến lược xác định thị trường của Ngân hàng thương mại. Nghiên cứu “Cho vay tiêu dùng: Xu hướng tất yếu của các ngân hàng thương mại” của tác giả Nguyễn Thị Minh đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ I tháng 7/2015 đã khẳng định: Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt, việc đẩy mạnh dịch vụ cho vay tiêu dùng trở nên tất yếu đối với mọi loại hình ngân hàng. Thị trường cho vay tiêu dùng hay nói cách khác là cho vay tiêu dùng cá nhân ở Việt Nam là rất rộng mở và đang phát triển mạnh cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Tác giả cho rằng, “cho vay tiêu dùng thường ở mức giá trị thấp, có tài sản thế chấp cũng như phương án trả nợ rõ ràng, cho nên đối với ngân hàng đây là những khoản vay an toàn và dễ thu hồi nợ.
Do đó mở rộng và phát triển nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ, tập 3 trung nhiều hơn đối với phân khúc khách hàng cá nhân, những người có nhu cầu tiêu dùng cũng đang trở thành xu hướng của các ngân hàng thương mại Việt Nam”. Kết quả nghiên cứu này khá tương đồng với nhận định về triển vọng tăng trưởng tín dụng năm 2016 của nhóm tác giả Học viện Ngân hàng (2016) trong báo cáo nghiên cứu “Hoạt động ngân hàng Việt Nam năm 2015 và triển vọng năm 2016” khi báo cáo này cho rằng nhu cầu vay vốn cho tiêu dùng và đầu tư sẽ được cải thiện so với năm trước (2015). Tác giả Vũ Văn Thực (2014) với nghiên cứu “Phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” đã đưa ra khái niệm về phát triển cho vay tiêu dùng (thường có tỷ lệ dư nợ lớn trong cho vay khách hàng cá nhân) trong đó nhấn mạnh đó là sự gia tăng của cả quy mô và chất lượng khoản vay. Mặc dù có đề cập đến cơ cấu cho vay trong việc đưa ra nghiên cứu về sự đa dạng hóa danh mục cho vay nhưng lại chưa có phân tích thể hiện cơ cấu đó có phù hợp với từng giai đoạn, thời kỳ hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam mà tác giả nghiên cứu hay không.
Nghiên cứu cũng chỉ mới dừng lại ở việc thể hiện chất lượng cho vay dựa trên số liệu về nợ xấu mà chưa có các tiêu chí khác làm rõ hơn nội dung này. Ngoài ra, cùng nghiên cứu về phát triển dịch vụ ngân hàng còn có các luận án tiến sĩ: “Phát triển dịch vụ ngân hàng bán buôn và bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” của tác giả Đào Lê Kiều Oanh bảo vệ năm 2012 tại trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh; Luận án tiến sĩ: “Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam” của tác giả Tô Khánh Toàn bảo vệ năm 2014 tại Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Mục tiêu nghiên cứu 3.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ tại VietinBank – Chi nhánh Hai Bà Trưng.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể + Hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về tín dụng bán lẻ và phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ tại các ngân hàng thương mại.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ tại VietinBank CN Hai Bà Trưng, phân tích các nhân tố tác động đến việc phát triển tín dụng bán lẻ tại VietinBank Hai Bà Trưng. Từ đó, chỉ ra những điểm hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó. + Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ tại VietinBank CN Hai Bà Trưng.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại.2 Phạm vi nghiên cứu Về nội dung : Sự gia tăng về lượng của dịch vụtín dụng bán lẻ, sự chuyển dịch cơ cấu tín dụng bán lẻ và hiệu quả của dịch vụ tín dụng bán lẻ. Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại VietinBank CN Hai Bà Trưng Về thời gian: Đề tài sử dụng số liệu trong giai đoạn 03 năm 2015 - 2018 và giải pháp hướng đến năm 2025.
5 Phƣơng pháp nghiên cứu 5.1 Các phương pháp sử dụng - Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: từ báo cáo tài chính, các báo cáo nội bộ của VietinBank CN Hai Bà Trưng, tìm hiểu thông tin trên Internet, tạp chí; Phương pháp thống kê mô tả; Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đánh giá nhằm làm rõ vấn đề mà mục tiêu nghiên cứu đề ra. - Phương pháp xử lý số liệu: Tác giả sử dụng các công cụ tính toán, các bảng biểu của phần mềm Microsoft Excel để thống kê, tổng hợp và phân tích các số liệu, 5 thông tin thu thập được.2 Nguồn thu thập các dữ liệu - Báo cáo tài chính, các báo cáo tiền gửi, tiền vay, báo cáo tổng hợp số liệu thực hiện các chỉ tiêu tại VietinBank CN Hai Bà Trưng, số liệu hoạt động kinh doanh trong giai đoạn 2015 – 2018 của VietinBank CN Hai Bà Trưng. - Các công văn về quy định, quy trình cấp tín dụng, hướng dẫn cho vay, thẩm định, sản phẩm cho vay, đối với khách hàng bán lẻ hiện đang được áp dụng tại VietinBank.Kết cấu đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ ở các ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng.
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hai Bà Trưng. 6 CHƯƠNG 1 CƠ SỞLÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂNDỊCH VỤ TÍN DỤNG BÁN LẺ 1.1 Cơ sở lý luận về Ngân hàng thƣơng mại và tín dụng 1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 :“ Ngân hàng thương mại là trung gian kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhâ ̣n tiề n gửi của khách hàng với trách nhiê ̣m hoàn trả và sử d ụng số tiề n đó để cấ p tín d ụng và cung ứng các d ịch vụ thanh toán”. NHTM cũng là một doanh nghiệp và doanh nghiệp này kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tiền tệ. Ngân hàng thương mại được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng (kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản) và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.2 Đặc điểm Ngân hàng thương mại * Về cấu trúc tài chính và tài sản: là doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ số nợ rất cao và cấu trúc tài sản đặc biệt.
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp có quy mô lớn trên cả giác độ vốn chủ sở hữu và tổng tài sản. Ở Việt Nam, vốn chủ sở hữu của các Ngân hàng thương mại là hàng nghìn tỷ đồng, với các Ngân hàng thương mại trên thế giới, vốn chủ sở hữu lên tới nhiều tỷ đô la Mỹ. Mạng lưới các chi nhánh Ngân hàng thường rất lớn và phân tán rộng về địa lý. Trong khi quy mô về vốn chủ sở hữu đã rất lớn, nguồn vốn của Ngân hàng thương mại lại chủ yếu là nợ được huy động từ bên ngoài Ngân hàng.
Cấu trúc tài sản của Ngân hàng thương mại đặc biệt hơn so với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khác là ở tỷ trọng tài sản tài chính. Phần lớn tài sản của Ngân hàng thương mại là tài sản tài chính, mang đặc trưng trừu tượng, hình thái vật chất giản đơn chỉ là giấy tờ hoặc thậm chí chỉ là dữ liệu điện tử được lưu giữ trong một thiết bị nhất định. Bên cạnh đó, Ngân hàng thương mại thường có xu hướng liên tục phát triển các sản phẩm, công cụ tài chính mới. 7 * Hoạt động của Ngân hàng thương mại luôn chứa đựng nhiều rủi ro và chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống luật pháp.
Trên giác độ tài chính doanh nghiệp, doanh nghiệp có hệ số nợ cao sẽ dẫn đến rủi ro trong hoạt động cũng cao. Bên cạnh đó, nguồn vốn nợ chủ yếu của Ngân hàng thương mại lại là tiền gửi với đặc trưng có thể bị rút ra trước hạn với khối lượng khó xác định. Sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng không được hưởng quy chế bảo hộ độc quyền và mang tính phức tạp, trực tiếp. Hơn nữa, Ngân hàng thương mại tham gia vào nhiều cam kết trong khi chưa chuyển giao vốn thực sự, tức là hoạt động ngoại bảng phong phú và đa dạng.
điểm này là một đặc trưng khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác. Vì những lý do này, hoạt động của Ngân hàng thương mại chứa đựng nhiều rủi ro hơn các ngành kinh doanh khác. Rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại đa dạng, ở mức độ cao, tích luỹ nhanh và dễ lây lan. Rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại bao gồm các loại rủi ro đặc thù như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro vốn khả dụng, rủi ro đạo đức… Là doanh nghiệp có quy mô lớn, mạng lưới rộng khắp, hoạt động chịu nhiều rủi ro, ảnh hưởng đáng kể đến nhiều hoạt động kinh tế xã hội, Ngân hàng thương mại chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống phát luật.