mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, nội dung chính của luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về dịch vụ thẻ tín dụng và phát triển dịch vụ thẻ tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu luận văn. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng Mại Cổ Phần Đầu Tƣ Và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tây. Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp nhằm phát triển dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng Mại Cổ Phần Đầu Tƣ Và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tây.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay, để thực hiện mục tiêu thanh toán không dùng tiền mặt mà Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam đã đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải phát triển đƣợc dịch vụ thẻ. Tại Việt Nam, thẻ ghi nợ hay dịch vụ thẻ tín dụng đã và đang chiếm phần lớn thị phần thị trƣờng thẻ thanh toán, trong khi đó dịch vụ thẻ tín dụng lại là loại thẻ tƣơng đối mới mẻ đối với nhiều ngƣời. Đã có một số đề tài khoa học cũng nhƣ các bài viết đề cập đến các thành tựu đạt đƣợc, tồn tại và các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của dịch vụ thẻ thanh toán nói chung và dịch vụ thẻ tín dụng nói riêng tại các ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam, có thể kể đến một số nghiên cứu sau: “Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam, nhìn từ cơ sở thực tiễn” do TS.
Đặng Công Hoàn đăng trên tạp chí ngân hàng, số 17, trang 26-33 năm 2011. Bài viết đã nêu rõ thực trạng phát triển thẻ thanh toán tại Việt Nam từ năm 2007. Tác giả cũng nhận diện các yếu tố chƣa bền vững nhƣ: phát triển thẻ thanh toán chủ yếu thiên về số lƣợng chƣa đi kèm với sự thay đổi căn bản về chất lƣợng, doanh số dùng thẻ để rút tiền mặt qua ATM chiếm t trọng quá cao, tính liên kết giữa đơn vị bán hàng và đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán không cao và kém bền vững, các chính sách hỗ trợ phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tuy đã có khá nhiều nhƣng chƣa có chính sách mang tính đột phá để tạo một lực bẩy cho công cụ thanh toán thẻ và thanh toán điện tử phát triển mạnh mẽ hơn. Qua đó, bài viết có đƣa ra một số giải pháp đối với Chính phủ, Ngân hàng nhà nƣớc, ngân hàng thƣơng mại và các tổ chức phát hành thẻ.
“Giải pháp phát triển thị trường thẻ Việt Nam” của tác giả Bùi Quang Tiên đăng trên tạp chí tài chính ngày 20/05/2013. Tác giả đã nêu một số kết quả đạt đƣợc trong quá trình phát triển thẻ tại Việt Nam về phát hành thẻ mới và nâng cao chất lƣợng thẻ cũng nhƣ dịch vụ tới khách hàng; cơ sở hạ tầng phục vụ cho thanh toán 5 thẻ tiếp tục đƣợc đầu tƣ và cải thiện; hành lang pháp lý cho hoạt động thẻ tiếp tục đƣợc hoàn thiện; tăng cƣờng sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, đơn vị liên quan. Bài viết cũng đƣa ra mục tiêu phát triển thanh toán không dùng tiền mặt đã đƣợc xác định tại Quyết định 2453 là: Đa dạng hóa dịch vụ thanh toán; phát triển cơ sở hạ tầng thanh toán; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thanh toán điện tử; chú trọng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực nông thôn để đáp ứng tốt hơn nhu cầu thanh toán của nền kinh tế; giảm chi phí xã hội liên quan đến tiền mặt tạo sự chuyển biến mạnh mẽ rõ rệt về tập quán thanh toán trong xã hội; góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng và hiệu quả quản lý nhà nƣớc. “Dịch vụ thẻ tín dụng– Lợi và hại” của tác giả Phƣơng Linh đăng trên trang của Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam ngày 24/04/2014.
Bài viết đã nêu lên một số lợi ích của dịch vụ thẻ tín dụng nhƣ: là hình thức tín dụng tiêu dùng đƣợc đơn giản hóa tối đa về thủ tục; ngân hàng phát hành thẻ thƣờng có điều khoản miễn lãi cho chủ thẻ tối đa đến 45 ngày kể từ ngày phát sinh giao dịch mua hàng hóa dịch vụ; dịch vụ thẻ tín dụnglà hình thức cấp tín dụng tín chấp, ngân hàng căn cứ vào mức độ tín nhiệm, điều kiện thu nhập của khách hàng mà quy định hạn mức tín dụng phù hợp đối với chủ thẻ và chủ thẻ không phải thế chấp hay cầm cố tài sản cho ngân hàng. Tuy nhiên, bài viết cũng đề cập đến vấn đề lãi suất dịch vụ thẻ tín dụngcao hơn nhiều so với lãi suất cho vay thông thƣờng. Tác giả cũng đƣa ra một số nguyên nhân dẫn đến lãi suất dịch vụ thẻ tín dụngcao đồng thời đƣa ra khuyến cáo cho chủ thẻ cần tìm hiểu kỹ các quy định của ngân hàng phát hành thẻ, đặc biệt là nắm vững cách tính lãi suất của ngân hàng phát hành thẻ. “Thanh toán thẻ vướng ở dịch vụ công” của tác giả Phạm Hà Nguyên đăng trên Thời báo ngân hàng ngày 04/06/2014 có đề cập đến việc phí thanh toán qua POS không đƣợc hạch toán vào chi phí tính thuế ở khu vực công nhƣ bệnh viện hay trƣờng học.
Nếu “đẩy” khoản phí quẹt thẻ vào tay bệnh nhân, bệnh viện sẽ bị phản ứng do mức thu phí cao hơn quy định chung nên họ thƣờng hay yêu cầu thanh toán bằng tiền mặt để giảm bớt thiệt hại. Hiện nay, mới có khoảng 1% trong tổng giao dịch thanh toán khám chữa bệnh qua thẻ ngân hàng, trong khi khối lƣợng giao dịch 6 ngày một lớn. Việc hỗ trợ phí quẹt thẻ thanh toán POS sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho các đơn vị cung ứng dịch vụ công là quyết định cần thiết của Bộ tài chính nhằm góp phần thực hiện chủ trƣơng chung của chính phủ trong việc hạn chế sử dụng tiền mặt. Nguyễn Thị Thùy Linh (2016), với nghiên cứu “ Phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam- chi nhánh Bắc Quảng Bình” đã phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hƣởng đến hoạt động dịch vụ thẻ tại BIDV Bắc Quảng Bình.
Qua đó, nghiên cứu đã đề xuất những giải pháp mới có tính khả thi để thực thi trong hoạt động dịch vụ thẻ tại địa bàn nghiên cứu góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV Bắc Quảng Bình trong giai đoạn hội nhập. Vũ Thu Hƣơng ( 2019), nghiên cứu về đề tài “ Phát triển dịch vụ thẻ tính dụng tại ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam chi nhánh Tp. Hồ Chí Minh” thông qua khảo sát sự hài lòng của khách hàng đối với chất lƣợng dịch vụ thẻ tác giả đã phân tích và đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tín dụng tại BIDV CN Tp. Hồ Chí Minh.
Đồng thời tác giả cũng đề xuất một số giải pháp và một số kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ thẻ tín dụng tại chi nhánh trong tƣơng lai. Có thể nói đề tài về phát triển dịch vụ thẻ tín dụng không mới, tuy nhiên, tại mỗi một tổ chức tín dụng lại có những đặc trƣng, chính sách đầu tƣ khác nhau. Trong không gian và thời gian khác nhau nên việc đƣa ra giải pháp để áp dụng hiệu quả các giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tín dụngcũng là không giống nhau. Qua tham khảo nội dung những nghiên cứu trên, tôi đã phần nào có những định hƣớng căn bản và góc nhìn mới để bổ sung nhằm hoàn thiện hơn cho luận văn của mình.
Vì vậy qua luận văn nghiên cứu này, tôi hy vọng sẽ nêu lên đƣợc thực trạng tổng thể về các điểm mạnh, điểm yếu trong công tác quản trị và phát triển dịch vụ thẻ, cũng nhƣ đƣa ra đƣợc một số giải pháp thích hợp để góp phần phát triển dịch vụ thẻ tín dụng tại ngân hàng TMCP BIDV chi nhánh Hà Tây trên thị trƣờng hiện nay. Tổng quan về thẻ tín dụng 1. Khái niệm, phân loại thẻ tín dụng a. Khái niệm thẻ tín dụng Sự ra đời của tiền tệ đã đánh dấu một bƣớc đột phá của sản xuất và lƣu thông 7 hàng hóa.
Qua nhiều giai đoạn phát triển và thay đổi, ngày nay tiền tệ đã đạt tới hình thái đỉnh cao với chức năng thanh toán không dùng tiền mặt thông qua thành quả của sự phát triển vƣợt bậc trong khoa học kỹ thuật và công nghệ tin học ứng dụng vào ngành tài chính – ngân hàng. Thẻ tín dụng là một phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt đƣợc sử dụng phổ biến ngày nay tại các quốc gia trên thế giới. Trong thƣơng mại hiện đại, dịch vụ thẻ tín dụngquốc tế đƣợc xem nhƣ một công cụ thanh toán thay thế cho tiền mặt và séc của hàng triệu việc mua hàng thông thƣờng cũng nhƣ nhiều giao dịch không thuận tiện hoặc không thể thực hiện đƣợc (Durkin, 2000). Những thay đổi về khoa học kỹ thuật đã giúp thay đổi cuộc sống của con ngƣời, một trong số đó là sự ra đời của thẻ tín dụngquốc tế - một công cụ thanh toán của cuộc sống hiện đại (Erdem, 2008).
Đối với ngƣời sử dụng thẻ, thẻ tín dụngquốc tế là một loại thẻ ngân hàng đặc biệt, bởi nó đại diện cho nguồn tín dụng (Scholnick và cộng sự, 2008). Căn cứ theo quy định tại khoản 3 điều 3 thông tƣ 19/2016/TT-NHNN Việt Nam định nghĩa về thẻ tín dụng cụ thể nhƣ sau: “Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ”. Nhƣ vậy, thẻ tín dụng là một phƣơng tiện thanh toán đƣợc phép sử dụng trên phạm vi toàn thế giới, do ngân hàng hoặc tổ chức phi ngân hàng phát hành theo thỏa thuận với chủ thẻ, đáp ứng cả nhu cầu tín dụng và thanh toán cho chủ thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng do tổ chức phát hành thẻ cấp. Trong đó, thể hiện hai mối quan hệ pháp lý giữa ba đối tƣợng tham gia là quan hệ về thanh toán giữa chủ thẻ với đơn vị chấp nhận thẻ, và quan hệ tín dụng giữa chủ thẻ với tổ chức phát hành thẻ.