phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của đề tài được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong thời gian tới. 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Khái niệm và phân loại thẻ ngân hàng thương mại 1.Khái niệm về thẻ ngân hàng Thẻ là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận.Các tổ chức phát hành thẻ hiện nay bao gồm các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam và một số công ty tài chính (thông tư 19/2016/TT-NHNN). Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành và cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ (thông tư 19/2016/TT-NHNN).
Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp tại ATM (nguồn: https://thebank.vn/blog/8695-nhung-khai-niem-va-phan-loai-the-ngan-hang.html) Thẻ ngân hàng được hình thành tại Mỹ từ thói quen cho khách hàng mua chịu của các chủ tiệm bán lẻ trên cơ sở uy tín của khách hàng đối với cửa hàng. Thẻ xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1914, khi tổng công ty xăng dầu California cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình. Đến năm 1946, dạng thẻ đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charge-It của ngân hàng John Biggins xuất hiện ở Mỹ, cho phép các khách hàng thực hiện các giao dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị được ngân hàng phát hành.( Bảo Duy, 2017) Vào năm 1950, Diners Club đã phát hành tấm thẻ tín dụng đầu tiên được làm bằng chất liệu Plastic. Ý tưởng phát hành ra tấm thẻ này là của ông Frank NcNamara, người sáng lập ra Diners Club.
Sau Diners Club vào năm 1958, công ty American Express cũng tham gia vào thị trường thẻ ngân hàng và đã nhanh chóng thiết lập tên tuổi của mình trong lĩnh vực này. (Bảo Duy, 2017) Trước năm 1970, khái niệm thẻ tín dụng đã được mọi người biết đến và đón nhận nhanh chóng. Năm 1966, khởi đầu cho giai đoạn tăng tốc trong phát triển dịch vụ thẻ, ngân hàng Bank of American thông qua việc ký các hợp đồng đại lý, đã trao 7 quyền phát hành thẻ BankAmerican của mình cho các ngân hàng khác. Tới năm 1977, thẻ của ngân hàng Bank of American thực sự trở lên quen thuộc và được chấp nhận trên toàn cầu, tên thẻ Visa ra đời với màu sắc đặc trưng vẫn là xanh lam, trắng và vàng.
Sau này ICA đã được đổi thành MasterCard.( Bảo Duy, 2017) Năm 1968, thông qua việc liên kết các đối tác tại thị trường Mexico và thị trường châu Âu, ICA bắt đầu chiến lược mở rộng kinh doanh trên phạm vi toàn cầu và cho ra đời thẻ Eurocard. Cũng trong năm 1968, nhằm từng bước thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Đông Á, tổ chức này đã kết nạp thêm thành viên là một số ngân hàng tại Nhật Bản.( Bảo Duy, 2017) Trong khoảng thời gian 25 năm trở lại đây, ngành công nghiệp thẻ thanh toán, đặc biệt là thẻ ngân hàng mới thực sự được phát triển. Với mạng lưới thành viên và khách hàng liên tục phát triển, các TCTQT đã xây dựng hệ thống xử lý giao dịch và trao đổi thông tin toàn cầu về việc phát hành, thanh toán, cấp phép, tra soát, khiếu kiện và quản lý rủi ro. Với doanh số giao dịch trăm tỷ USD hàng năm, thẻ ngân hàng đang cạnh tranh quyết liệt cùng với sécvà tiền mặt trong hệ thống thanh toán toàn cầu.
Cùng với sự phát triển của 2 tổ chức thẻ quốc tế Visa, Master, một loạt các tổ chức thẻ có tính chất quốc tế khác nối tiếp xuất hiện như: JCB, American Express, Eurocard… Hiện nay, người sử dụng thẻ có thế sử dụng thẻ ở gần hết các nước trên thế giới, họ không còn phải lo việc chuyển đổi sang đồng tiền nội địa khi ra nước ngoài. (thông tư 19/2016/TT-NHNN) - Thẻ là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng hoặc công ty phát hành thẻ với chủ thẻ. (thông tư 19/2016/TT-NHNN) 8 - Thẻ là một phương tiện ghi sổ số tiền thanh toán thông qua thiết bị đọc thẻ phối hợp với hệ thống nối mạng vi tính để kết nối trung tâm phát hành thẻ với các điểm thanh toán. Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và an toàn hơn cho các đối tượng tham gia thanh toán.
(thông tư 19/2016/TT-NHNN) Tham gia vào một giao dịch thẻ có 3 hoặc 4 thành viên: Chủ thẻ (khách hàng), cơ sở chấp nhận thẻ (nơi cung ứng hàng hoá dịch vụ), ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán. (thông tư 19/2016/TT-NHNN) Đối với ngân hàng, việc phát hành và thanh toán thẻ NH là một hoạt động mang tính dịch vụ bao gồm các nghiệp vụ cho vay, huy động vốn, thanh toán trong nước và ngoài nước. Phân loại thẻ ngân hàng Đứng trên nhiều giác độ khác nhau để phân loại thì có thể chia thành các loại thẻ NH theo các tiêu chí về đặc tính kỹ thuật về chủ thẻ phát hành theo tính chất thanh toán, theo hạn mức và theo phạm vi sử dụng thẻ (xem Sơ đồ 1.1: Phân loại thẻ ngân hàng (thông tư 19/2016/TT-NHNN) 9 Từ sơ đồ 1.1 trên đây, có thể thấy có 5 tiêu chí để phân loại thẻ ngân hàngđó là: 1. Theo đặc tính kỹ thuật Thẻ băng từ: Được sản xuất dựa trên kĩ thuật từ tính với một băng từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ.
Là loại thẻ có dải băng từ ở mặt sau của thẻ, các thông tin liên quan đến chủ thẻ và thẻ đều được mã hóa trong băng từ (xem hình 1. Đây là loại thẻ được sử dụng rất phổ biến nhưng khi trình độ công nghệ phát triển, nó đã bộc lộ một số nhược điểm như tính bảo mật không cao do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hóa được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít nên dễ bị kẻ gian lợi dụng đọc thông tin và làm thẻ giả hoặc tạo các giao dịch giả gây thiệt hại cho chủ thẻ và ngân hàng.1 Thẻ băng từ Thẻ thông minh (thẻ điện tử có bộ vi xử lí chip): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có đặc tính bảo mật và an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu tạo như một máy tính hoàn hảo(xem hình 1. Tuy nhiên, do sử dụng công nghệ mới nên giá thành cao, hệ thống máy móc chấp nhận thanh toán thẻ này cũng khá đắt nên sử dụng còn chưa phổ biến như thẻ từ. Việc phát hành và chấp nhận thanh toán thẻ này mới chỉ phổ biến ở các nước phát triển mặc dù các tổ chức thẻ quốc tế vẫn khuyến khích các ngân hàng thành viên phát hành và thanh toán lại thẻ này nhằm giảm tỷ lệ rủi ro do giả mạo thẻ.2 Thẻ thông minh 10 1.
Theo chủ thể phát hành Thẻ do ngân hàng phát hành: Là thẻ thanh toán do các NHTM phát hành để giúp khách hàng sử dụng tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Loại thẻ này đang được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Nó không chỉ lưu hành trong phạm vi quốc gia mà còn có thể lưu hành trên toàn cầu như thẻ Visa, Master và một số các loại thẻ khác.3 Thẻ do NH phát hành Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: Là các loại thẻ du lịch và giải trí do các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Diners Club, Amex,. và cũng lưu hành trên toàn cầu.4 Thẻ do các tổ chức phi lợi nhuận phát hành 1.
Theo tính chất thanh toán của thẻ Thẻ ghi nợ (Debit card): là loại thẻ được sử dụng để chi trả hoặc rút tiền mặt trên cơ sở số tiền trong tài khoản tiền gửi của chủ thẻ tại ngân hàng. Thẻ ghi nợ hoạt động theo nguyên tắc mỗi lần sử dụng ngân hàng sẽ tự động trừ ngay số tiền tương ứng trên tài khoản của chủ thẻ. Để tạo điều kiện cho chủ thẻ trong quá trình giao dịch, ngân hàng phát hành có thể cho phép chủ thẻ chi tiêu hoặc rút tiền mặt vượt quá số dư trên tài khoản trong một khoảng thời gian nhất định và hình thức này được gọi là thấu chi.5 Thẻ ghi nợ Thẻ tín dụng (Credit card): Là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ trong hạn mức tín dụng tuần hoàn được cấp và chủ thẻ phải thanh toán toàn bộ các khoản dư nợ phát sinh theo qui định. Điều này có nghĩa chủ thẻ được ngân hàng cấp cho một hạn mức tín dụng nhất định để chi tiêu.
Với hạn mức tín dụng này, chủ thẻ có khả năng chi tiêu trước trả tiền sau. Khoảng thời gian từ khi thẻ được dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài phụ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của các tổ chức khác nhau. Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn, thời gian này sẽ trở thành thời gian ân hạn và chủ thẻ hoàn toàn được miễn lãi đối với số dư nợ cuối kỳ. Tuy vậy, nếu hết thời gian này mà toàn bộ số dư nợ cuối kỳ chưa được thanh toán cho ngân hàng thì chủ thẻ sẽ chịu những khoản phí và lãi chậm trả.
Khi toàn bộ số tiền phát sinh được hoàn trả cho ngân hàng, hạn mức tín dụng của chủ thẻ được khôi phục như ban đầu.6 Thẻ tín dụng 12 Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là một hình thức của thẻ ghi nợ nhưng chỉ có một chức năng là rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở ngân hàng(xem hình 1. Số tiền rút ra mỗi lần sẽ được trừ dần vào số tiền ký quĩ hoặc số tiền khách hàng đã gửi tại ngân hàng.7 Thẻ rút tiền mặt Thẻ liên kết (Co-Branded Card): Một hình thức thẻ ngân hàng ngày càng trở nên phổ biến là thẻ liên kết(xem hình 1.