CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm thẻ ngân hàng: Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính quan trọng bậc nhất của nền kinh tế, ngoài chức năng huy động vốn và cấp tín dụng, còn thực hiện chức năng cung cấp các dịch vụ ngân hàng trong đó có dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các phương tiện thanh toán qua ngân hàng ngày càng đa dạng, phong phú dáp ứng được sự phát triển của hoạt động thanh toán của các chủ thể trong nền kinh tế. Một trong những phương tiện thanh toán qua ngân hàng phổ biến hiện nay là thẻ ngân hàng. Là phương tiện thanh toán phổ biến trên thị trường nên có nhiều định nghĩa khác nhau về thẻ ngân hàng.
Theo từ điển Cambridge, thẻ ngân hàng là một thẻ nhựa được ngân hàng cấp cho khách hàng để khách hàng sử dụng thanh toán mọi thứ hoặc rút tiền ra khỏi tài khoản của khách hàng. Theo Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán hiện đại do ngân hàng phát hành cho khách hàng để họ thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp thông qua các máy giao dịch tự động hoặc các thiết bị rút tiền khác (Nguyễn Đăng Dờn và các tác giả, 2011). Thẻ ngân hàng, theo định nghĩa của NHNN Việt Nam trong Thông tư 19/2016/TT-NHNN, là “phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận”. Như vậy, thẻ ngân hàng có thể hiểu là phương tiện thanh toán qua ngân hàng được biểu hiện dưới dạng thẻ nhựa, do ngân hàng phát hành giao cho khách hàng để khách hàng dùng mua sắm hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng mà ngân hàng cấp.
9 Chức năng của thẻ ngân hàng bao gồm rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, vấn tin số dư tài khoản, đổi mã PIN, in sao kê… Là phương tiện thanh toán qua ngân hàng, dưới dạng thẻ nhựa, thẻ ngân hàng được làm bằng nhựa có 3 lớp, lõi thẻ là lớp nhựa trắng cứng nằm giữa 2 lớp tráng mỏng, kích thước tiêu chuẩn quốc tế là 8. Trên mặt thẻ sẽ bao gồm biểu tượng, tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ, số thẻ, tên của chủ thẻ được in nổi, thời gian hiệu lực của thẻ, ký tự an ninh, số tài khoản .Ở mặt sau của thẻ sẽ bao gồm dải băng từ, ô chữ ký và một số thông tin khác.2 Phân loại thẻ ngân hàng Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại thẻ, trong đó có 03 tiêu chí phân loại được sử dụng phổ biến trong nền kinh tế là tính chất thanh toán, đặc tính kỹ thuật và phạm vi sử dụng. Trong đó: Căn cứ vào tính chất thanh toán: Thẻ ngân hàng được chia làm 3 loại là thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng và thẻ trả trước. - Thẻ ghi nợ (debit card) là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện các giao dịch thanh toán/rút tiền mặt trên cơ sở số dư tiền gửi tại tài khoản thanh toán mở tại ngân hàng.
- Thẻ tín dụng (credit card) là một hình thức cho vay của ngân hàng, trong đó, ngân hàng cấp cho khách hàng thẻ với hạn mức tín dụng dựa trên thỏa thuận giữa ngân hàng và chủ thẻ. Chủ thẻ tín dụng có thể thực hiện thanh toán hoặc rút tiền mặt như thẻ ghi nợ nhưng số tiền giao dịch lúc này là tiền vay ngân hàng. - Thẻ trả trước là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thể đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Đối với thẻ trả trước không cần chủ thẻ phải có tài khoản thanh toán tại ngân hàng.
Căn cứ vào phạm vi sử dụng: Thẻ ngân hàng được chia thành thẻ quốc tế và thẻ nội địa - Thẻ quốc tế là thẻ có phạm vi sử dụng trong nước và quốc tế. Các loại thẻ quốc tế là do các tổ chức thẻ quốc tế hoặc các NHTM trong nước là thành viên của 1 các tổ chức thẻ quốc tế phát hành. Thẻ quốc tế sử dụng ngoại tệ mạnh để thanh toán. Một số các tổ chức phát hành thẻ quốc tế lớn như Visa, Master Card.
- Thẻ nội địa là loại thẻ mà phạm vi thanh toán và rút tiền chỉ ở trong nước, không có giá trị khi ở nước ngoài và chỉ dùng nội tệ trong giao dịch. Căn cứ vào kỹ thuật thẻ: - Thẻ từ: là loại thẻ sử dụng kỹ thuật từ tính để đọc thông tin trên thẻ. Dải băng từ phía sau thẻ lưu giữ các thông tin của chủ thẻ. Máy đọc thẻ sử dụng kỹ thuật từ tính sẽ đọc thông tin ghi trên giải băng từ và thực hiện in sao những thông tin cần thiết trên thẻ vào hóa đơn giao dịch.
- Thẻ điện tử: là loại thẻ sử dụng chip điện tử với bộ vi xử lý để thực hiện lưu trữ thông tin với mức độ bảo mật cao. Tương ứng với thẻ điện tử phải có đầu đọc thẻ điện tử thích hợp để xử lý giao dịch.3 Các chủ thể chính trong giao dịch qua thẻ ngân hàng Quá trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng có sự tham gia của các chủ thể chính gồm ngân hàng phát hành thẻ, chủ thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ. Trong đó: - Ngân hàng phát hành thẻ: là ngân hàng, tổ chức được phép phát hành thẻ. Ngân hàng phát hành thẻ có thể là ngân hàng được sự cho phép của tổ chức thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu của những tổ chức thẻ này, ví dụ như thẻ VISA, Master.
Tên của tổ chức phát hành thẻ được in trên thẻ. Ngân hàng phát hành thẻ sẽ quy định điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ. Để được phát hành thẻ, các ngân hàng cần phải có uy tín cũng như đảm bảo các yêu cầu về khả năng tài chính, công nghệ cũng như các điều kiện để đảm bảo hoạt động theo quy định của mỗi quốc gia. - Chủ thẻ: là người được ngân hàng phát hành thẻ phát hành thẻ để sử dụng.
Chủ thẻ có thể là cá nhân hoặc người được ủy quyền (nếu thẻ do tổ chức ủy quyền sử dụng) được ngân hàng phát hành thẻ và sử dụng thẻ theo điều khoản, điều kiện do ngân hàng phát hành thẻ quy định. Chủ thẻ được phép sử dụng toàn bộ các chức năng của thẻ như rút tiền, thanh toán hóa đơn hàng hóa, dịch vụ. 1 - Ngân hàng thanh toán thẻ: là ngân hàng, tổ chức khác với tổ chức tín dụng nhưng được cấp phép thực hiện dịch vụ thanh toán, nằm trong hệ thống các ngân hàng quốc tế chấp nhận thanh toán các loại dịch vụ liên quan đến thẻ do ngân hàng phát hành đã phát hành. Ngân hàng thanh toán thẻ sẽ thiết lập và duy trì quan hệ với các chủ thẻ.
Nhiều ngân hàng thương mại vừa là nhà phát hành thẻ vừa là nhà thanh toán thẻ. Cũng tương tự như tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ phải tuân thủ các điều kiện nghiêm ngặt để được hoạt động. Một trong những yêu cầu quan trọng để trở thành đơn vị thanh toán thẻ đó là phải có hệ thống máy móc xử lý và quản lý giao dịch hiện đại, hệ thống máy móc chấp nhận thẻ tại các ĐVCNT. Các khoản thu từ phí thông qua giao dịch thẻ là nguồn thu để ngân hàng bù đắp cho chi phí đầu tư, phí trao đổi thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng cũng như mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
- Đơn vị chấp nhận thẻ ngân hàng: là cá nhân hoặc tổ chức cung cấp sản phẩm, hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế, chấp nhận cho khách hàng thanh toán hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ. Để trở thành đơn vị chấp nhận thẻ của một ngân hàng, đơn vị phải có uy tín, tình hình tài chính tốt và có năng lực kinh doanh. Những đơn vị kinh doanh hiệu quả, thu hút được nhiều khách hàng thanh toán bằng thẻ mới được các ngân hàng thanh toán thẻ ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ.4 Quy trình phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng 1.1 Quy trình phát hành thẻ 1 Hình 1.1: Quy trình phát hành thẻ Nguồn: Phan Thị Thu Hà (2007) Quy trình phát hành thẻ ngân hàng cho khách bao gồm các bước cụ thể như sau: Bước 1: Khách hàng nộp hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ theo biểu mẫu quy định của ngân hàng cho ngân hàng phát hành. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, nhân viên ngân hàng sẽ kiểm tra và yêu cầu khách hàng hoàn chỉnh hồ sơ phát hành thẻ với đầy đủ thông tin theo quy định.
Bước 2: Ngân hàng phát hành kiểm tra tính chính xác, hợp lệ của các thông tin trên hồ sơ của khách hàng, tham khảo, đối chiếu với các thông báo phòng ngừa rủi ro (nếu có) từ các cơ quan liên quan. Bước 3: Sau khi chấp thuận hồ sơ, ngân hàng mở tài khoản thẻ cho khách hàng, lập hồ sơ quản lý thẻ, thực hiện mã hóa thẻ, cấp mã PIN và in thẻ cho khách hàng. Bước 4: Ngân hàng phát hành giao thẻ cho khách hàng, yêu cầu chủ thẻ nhận thẻ và ký vào giấy giao nhận thẻ. Nhân viên sẽ tư vấn cho khách hàng cách sử dụng thẻ.2 Quy trình thanh toán thẻ ngân hàng Hình 1.2: Quy trình thanh toán thẻ ngân hàng Nguồn: Bùi Diệu Anh (2013) Dựa trên mạng lưới thanh toán qua hệ thống chuyển tiền điện tử, các giao dịch được thực hiện nhanh chóng với các bước cụ thể như sau: 1 Bước 1: Chủ thẻ sử dụng thẻ tại cơ sở tiếp nhận thẻ hay ĐVCNT: đưa thẻ vào máy POS, phát lệnh thanh toán điện tử ghi nợ tài khoản chủ thẻ và ghi có cho ĐVCNT.
Bước 2: Lệnh thanh toán được chuyển từ máy POS đến trung tâm thanh toán.