Chương 1: Cơ sở luận về dịch vụ thẻ của Ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Sở giao dịch 1 Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Sở giao dịch 1 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm Về mặt bản chất, thẻ là một phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt đƣợc phát hành bởi các ngân hàng, các định chế tài chính hoặc các công ty. Chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ, rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý, cơ sở chấp nhận thẻ hoặc tại các máy rút tiền tự động (ATM/POS).
Trong quy chế phát hành, thánh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 25/05/2007 của NHNN Việt Nam, khái niệm thẻ đƣợc quy định nhƣ sau: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận” 1. Đặc điểm cơ bản của thẻ Hầu hết các loại thẻ thanh toán đều đƣợc làm bằng nhựa cấu tạo với 3 lớp đƣợc ép với kỹ thuật cao. Thẻ có kích thƣớc: 84mm x 54mm xx0,76mm có góc tròn gồm 2 mặt có in đầy đủ các yếu tố nhƣ nhãn hiệu thƣơng mại của thẻ, tên và logo của tổ chức phát hành thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ, ngày hiệu lực. và một số yếu tố khác tùy theo quy định của các TCTQT hoặc hiệp hội phát hành thẻ trên hai bề mặt thẻ a.
Mặt trước của thẻ - Tên thƣơng hiệu và/hoặc logo của NHPH, của tổ chức thẻ: Mỗi loại thẻ có một biểu tƣợng riêng, mang tính đặc trƣng của tổ chức phát hành thẻ. Đây đƣợc xem nhƣ một yếu tố an ninh, chống lại sự giả mạo. - Số thẻ: Số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, đƣợc dập nổi trên thẻ và đƣợc in lại trên hóa đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ - Họ tên chủ thẻ: Là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên của ngƣời đƣợc ủy quyền nếu là thẻ công ty - Thời hạn hiệu lực của thẻ: Là thời hạn mà thẻ đƣợc phép lƣu hành, tùy theo 6 từng loại thẻ mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ hoặc ngày đầu tiên và ngày cuối cùng đƣợc sử dụng thẻ. - Ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành: Đƣợc in phía sau của ngày hiệu lực nhằm tăng tính an toàn của thẻ, đề phòng giả mạo.
Ngoài ra còn có các yếu tố khác nhƣ chữ ký, hình ảnh của chủ thẻ, hình nổi không gian 3 chiều hoặc chíp đối với thẻ điện tử b. Mặt sau của thẻ Dải băng từ chứa các thông tin nhƣ số thẻ, ngày hết hạn, tên chủ thẻ, NHPH, các yếu tố kiểm tra an toàn khác Dải băng chữ ký của chủ thẻ: DVNCT đối chiếu chữ ký này với chữ ký khi thực hiện thanh toán thẻ 1. Phân loại thẻ Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng, sử dụng để thanh toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dƣ tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng đƣợc cấp. Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM.
Thẻ có thể đƣợc phân loại theo một số tiêu chí sau: a. Phân theo công nghệ bảo mật - Thẻ từ: Là loại thẻ mà toàn bộ thông tin về chủ thẻ đƣợc mã hóa trong dải băng từ ở mặt sau của thẻ. Thẻ từ hiện nay đang chiếm phần lớn trong tổng số lƣợng thẻ đang đƣợc sử dụng trên thị trƣờng. Tuy nhiên thẻ từ có nhƣợc điểm là số lƣợng các thông tin đƣợc mã hóa không nhiều và mang tính chất cố định nên không thể áp dụng kỹ thuật mã hóa an toàn và có thể bị ăn cắp thông tin và lợi dụng để làm thẻ giả hoặc thực hiện các giao dịch giả gây thiệt hại cho chủ thẻ và ngân hàng.
- Thẻ chíp: Là loại thẻ hiện đại hơn, bảo mật tốt hơn, do ngoài vạch từ thì thông tin còn đƣợc mã hóa trong một con chíp điện tử đặt ở mặt trƣớc của thẻ. Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu tạo nhƣ một máy tính hoàn hảo cho phép mã hóa thông tin và khách hàng và tài khoản, vì vậy tính bảo mật của loại thẻ này là rất cao. Tuy nhiên do đây 7 là công nghệ mới và có nhiều ƣu điểm nên giá thành cao, hệ thống máy móc chấp nhận loại thẻ này cũng có giá thành cao nên chƣa đƣợc sử dụng phổ biến nhƣ thẻ từ. Việc phát hành và chấp nhận thanh toán loại thẻ này mới chỉ phổ biến ở các nƣớc phát triển dù các tổ chức thẻ quốc tế vẫn đang khuyến khích các ngân hàng thành viên đầu tƣ để phát hành và chấp nhận loại thẻ này nhằm hạn chế rủi ro do giả mạo thẻ.
Phân theo tính chất thanh toán của thẻ - Thẻ tín dụng (Credit Card): Là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ trong hạn mức tín dụng tuần hoàn đƣợc cấp và chủ thẻ phải thanh toán toàn bộ các khoản dƣ nợ phát sinh theo qui định. Thẻ tín dụng là phƣơng thức thanh toán cho phép nguời sử dụng chi tiêu trƣớc trả tiền sau. Tại thời điểm khách hàng thanh toán hàng hóa dịch vụ, ngân hàng sẽ đứng ra tạm ứng thanh toán cho đơn vị cung cấp hàng hoá dịch vụ và sau đó sẽ tiến hành thu hồi khoản tiền này từ khách hàng sau một khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận giữa ngân hàng và chủ thẻ. Khoảng thời gian kể từ khi thẻ đuợc dùng để thanh toán hàng hoá dịch vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài tuỳ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của từng tổ chức thẻ khác nhau.
Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dƣ nợ vào ngày đến hạn, thời gian này sẽ trở thành thời gian ân hạn và chủ thẻ hoàn toàn đƣợc miễn lãi đối với số dƣ nợ cuối kỳ. Tuy vậy nếu hết thời gian này mà chủ thẻ vẫn chƣa thanh toán hoặc chƣa thanh toán hết dƣ nợ cuối kỳ cho ngân hàng thì chủ thẻ sẽ phải chịu những khoản phí và lãi chậm trả trên số dƣ nợ còn lại. Sau khi thanh toán hết dƣ nợ phát sinh trong kỳ, hạn mức tín dụng của chủ thẻ sẽ đƣợc khôi phục nhƣ ban đầu. Đây chính là tính chất tuần hoàn của thẻ tín dụng Ngân hàng và các tổ chức tài chính phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng dựa trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng.
Khả năng đảm bảo chi trả đƣợc xác định dựa trên các tiêu chí nhƣ: thu nhập, tình hình chi tiêu, uy tín, mối quan hệ sẵn có với các tổ chức tài chính, tài sản thế chấp… của khách hàng. Khi sử dụng thẻ, thay bằng tiền mặt, chủ thẻ xuất trình thẻ của mình tại các điểm cung ứng hàng hóa dịch vụ có chấp nhận thẻ để thanh toán. - Thẻ ghi nợ (Debit Card): Là thẻ kết nối với tài khoản, cho phép khách hàng 8 có thể rút tiền trong tài khoản của mình tại các máy ATM hoặc thực hiện các giao dịch mua sắm hàng hóa, thanh toán hóa đơn. Giống nhƣ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ cũng là một phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt.
Nó cho phép khách hàng tiếp cận với số dƣ tài khoản của mình qua hệ thống kết nối trực tuyến để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các ĐVCNT hoặc thực hiện các giao dịch liên quan tới tài khoản tại các máy ATM. Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc chủ yếu vào số dƣ trong tài khoản. Ngân hàng giữ vai trò cung cấp dịch vụ cho chủ thẻ và thu phí dịch vụ. Đối với thẻ ghi nợ, giữa ngân hàng và khách hàng không diễn ra quá trình cho vay tín dụng, không có việc phân loại khách hàng nên mọi khách hàng chỉ cần có tài khoản tại ngân hàng đều có thể tiếp cận với sản phẩm thẻ ghi nợ của ngân hàng.
Chính vì vậy về mức độ có thể thay thể tiền mặt, thẻ ghi nợ chiếm ƣu thế vƣợt trội so với thẻ tín dụng. + Thẻ ghi nợ nội địa: Là thẻ đƣợc giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ. Hoạt động của loại thẻ này rất đơn giản, chỉ do một ngân hàng hoặc một tổ chức điều hành từ việc phát hành, xử lý trung gian cho đến thanh toán. Thẻ có nhƣợc điểm là việc sử dụng chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia, vì vậy việc kinh doanh sẽ không có hiệu quả nếu hệ thống máy ATM không phát triển.
+ Thẻ ghi nợ quốc tế: Thẻ sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán, đƣợc chấp nhận trên phạm vi toàn cầu. Thẻ đƣợc hỗ trợ và quản lý bởi các tổ chức thẻ quốc tế, mà hiện nay phổ biến nhất là hai tổ chức thẻ VISA và MASTER, đƣợc hoạt động thống nhất và đồng bộ. Thẻ quốc tế rất đƣợc ƣa chuộng vì tính tiện lợi của nó, có thể rút tiền và thanh toán tại tất cả các quốc gia trên thế giới có chấp nhận thanh toán thẻ của các thƣơng hiệu thẻ (hiện nay chủ yếu là 2 thƣơng hiệu thẻ VISA và MASTER). - Thẻ trả trƣớc (Prepaid Card): Là loại thẻ do các ngân hàng và tổ chức tín dụng phát hành cho phép khách hàng nạp trƣớc một khoản tiền và dùng để thanh toán khi sử dụng các sản phẩm, dịch vụ.
Tính năng sử dụng của thẻ trả trƣớc giống nhƣ thẻ ghi nợ (Debit Card). Nhƣng có một sự khác biệt là thẻ PREPAID không kết 9 nối với tài khoản, chủ thẻ phải nộp tiền vào thẻ mới có thể sử dụng, và chỉ đƣợc sử dụng trên số tiền có trong thẻ. Phân theo phạm vi sử dụng của thẻ - Thẻ nội địa (thẻ trong nƣớc): Là thẻ do các ngân hàng, tổ chức tín dụng phát hành sử dụng thay thế tiền mặt để thanh toán hàng hoá dịch vụ và rút tiền mặt trong phạm vi quốc gia.