CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TONG QUAN VE DICH VU NGAN HANG 1. Khát niệm dịch vụ Dịch vụ hay lĩnh vực dịch vụ trong nên kinh té được xác định theo nhiều khía cạnh khác nhau, chăng hạn: O góc độ chung nhất về thông kê kinh tế dịch vụ được coi là một lĩnh vực kinh tế không bao gồm các ngành nông nghiệp và công nghiệp. [47] Theo Noel Capon (2009), dịch vụ là bất kỳ hành động hay sự thực hiện nào mà một 7 bên cung cấp cho bên khác tồn tại một cách vô hình và không nhất thiết đi đến một quan hệ sở hữu.
[6] Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, dịch vụ là các hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. [47] Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hắn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm năm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa dịch vụ. [47] Trong marketing, Philip Kotler dinh nghia dich vu nhu sau: “Dich vu 1a moi hanh động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia mà chủ yêu là vô hình và không dẫn đến quyên sở hữu cái gì đó.
Sản phẩm của nó có thể có hoặc không găn liền với sản phẩm vật chất” [4] Trong ISO 8402, Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu câu của khách hàng. Như vậy, có rất nhiều khái niệm về dịch vụ. Ta cũng có thể hiểu, dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thể cung cấp cho bên kia (người mua) và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất.
Hay, dịch vụ là một quá trình bao gồm một loạt các hoạt động ít hay nhiều là vô hình, mà các hoạt động này thường xảy ra trong quá trình giao dịch giữa khách hàng và người cung ứng dịch vụ và/hoặc các sản phẩm hữu hình, và/hoặc hệ thông của người cung ứng dịch vụ mà được xem là giải pháp cho các vấn đề của khách hàng. Theo tác giả, dịch vụ là hoạt động cung ứng các sản phẩm trong đó chủ yếu là các sản phẩm phi vật thể nhưng đại bộ phận là không chuyển đổi quan hệ về sở hữu. Khát niệm dịch vụ ngân hàng Trong WTO, trong bảng phân loại các dịch vụ của Tô chức thương mại thê giới, dịch vụ tài chính được xếp vào phân ngành thứ 7 trong 12 phân ngành dịch vụ. WTO phân loại dịch vụ thành 12 ngành: 1.
Dịch vụ kinh doanh, 2. Dịch vụ liên lạc, 3. Dịch vụ xây dựng và thi công, 4. Dịch vụ phân phối, 5.
Dịch vụ giáo dục, 6. Dịch vụ môi 8 truong, 7. Dich vu tai chinh, 8. Dich vu én quan đến sức khoẻ và địch vụ xã hội, 9.
Dịch vụ du lịch và địch vụ liên quan đến lữ hành, 10. Dịch vụ giải trí, văn hoá và thể thao, 11. Dịch vụ vận tải, 12. Các dịch vụ khác [37] Trong GATS, dịch vụ ngân hàng được đặt trong nội hàm dịch vụ tài chính.
Theo GATS, dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một thành viên thực hiện. Dịch vụ tài chính bao gôm moi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm). Trong đó, dịch vụ ngân hàng bao gôm: + Nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản tiền có thể thanh toán khác của công chúng; + Cho vay dưới các hình thức, bao gồm: Tín dụng tiêu dùng, tín dụng thê chấp, bao tiêu nợ và tài trợ các giao dịch thương mại; + Cho thuê tài chính; + Mọi dịch vụ thanh toán và chuyên tiền, bao gồm: Thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và báo nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng: + Bảo lãnh và cam kết; + Kinh doanh tài khoản của mình hoặc của khách hàng, dù tại sở giao dich và trên thị trường không chính thức, hoặc các giao dịch khác về công cụ thị trường tiên tệ, ngoại hồi; các sản phẩm tài chính phái sinh; các hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn; các sản phẩm dựa trên tỷ giá hối đoái và lãi suất, gồm các sản phẩm như: hoán đổi, hợp đồng tỷ giá kỳ hạn; chứng khoán có thể chuyển nhượng: + Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kê cả bảo lãnh phát hành và chào bán như đại lý và cung cấp dịch vụ liên quan tới việc phát hành đó; + Môi giới tiên tệ: + Quản lý tài sản, như tiền mặt hoặc quản lý đanh mục danh mục đầu tư, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ bảo quản, lưu giữ và tín thác; + Các dịch vụ thanh toán và quyết toán tài sản tài chính, bao gồm: Chứng khoán, các sản phẩm tài chính phái sinh và các công cụ thanh toán khác; + Cung cấp và chuyên thông tin tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm liên 9 quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác; + Các dịch vụ vé tu van, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác liên quan, kể cả tham khảo và phân tích tín dụng, nghiên cứu tư vẫn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vẫn hoạch định chiến lược doanh nghiệp. [37] Như vậy, theo GATS, dịch vụ ngân hàng được đặt trong nội hàm của dịch vụ tài chính.
Với cách định nghĩa như vậy rất khó tách bạch đâu là dịch vụ ngân hàng thuần túy nên có nhiều người khắc phục bằng cách gọi hỗn hợp là dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm). Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam năm 2010 cũng chưa đưa ra một khái niệm cụ thể hoặc giải thích từ ngữ đối với khái niệm dịch vụ ngân hàng mà chỉ đề cập đến thuật ngữ “hoạt động ngân hàng” trong khoản 12, điều 4: “việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng: Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Tuy nhiên đâu là hoạt động kinh doanh tiền tệ và đâu là dịch vụ ngân hàng thì chưa có sự phân định rõ. Đây là một trong những điểm bắt cập của Luật các Tô chức tín dụng của Việt Nam.
[16] Như vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính thuộc lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và các nghiệp vụ có liên quan trong quá trình lưu thông tiền tệ. Bản thân ngân hàng là một dạng kinh doanh ngoại tệ, thu phí của khách hàng, được xét thuộc nhóm ngành dịch vụ hoạt động ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thê, nhưng với việc đáp ứng các nhu câu về tiền tệ, về vốn, về thanh toán cho khách hàng, ngân hàng đã gián tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ trong nên kinh tê. Từ những định nghĩa trên tuy có những cách thể hiện khác nhau nhưng có thể đưa ra khái niệm về dịch vụ ngân hàng như sau: Dịch vụ ngân hàng là các nghiệp vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng những tiện ích theo nhu cầu của khách hàng như nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán, các dịch vụ VỀ ngoại hỗi, bảo lãnh, tư vấn. Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ ngân hàng 1.
Tính vô hình Đây là đặc điểm của dịch vụ nói chung và là điểm chính để phân biệt sản phâm dịch vụ ngần hàng với các sản phâm của các ngành sản xuât vật chât khác trong nên kinh tê quôc 10 dân. Sản phẩm ngân hàng thường thực hiện theo một quy trình chứ không phải chỉ có thể kiểm tra chất lượng sản phẩm dịch vụ trong hoặc sau khi sử dụng. Vì thế khách hàng thường khó khăn trong việc ra quyết định chọn lựa và sử dụng sản phẩm dịch vụ và thông thường họ thường đánh giá thông qua hình ảnh tổng thể của ngân hàng hơn. Do vậy, các ngân hàng phải luôn tạo dựng và củng cỗ niềm tin đối với khách hàng về chất lượng dịch vụ hoàn hảo, tìm cách phát triển các đặc tính hữu hình của sản phẩm.
Tính không thể tách biệt Quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng thường được tiễn hành theo quy trình nhất định như quy trình cho vay, quy trình thanh toán qua ngân hàng. Điều này làm cho ngân hàng không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho, xuất kho mà sản phẩm được cung ứng trực tiếp cho khách hàng khi họ có nhu câu. Tính không thê tác biệt của sản phẩm dịch vụ ngân hàng thể hiện ở tính kết hợp, liên kết chéo, nối tiếp của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và các tiện ích đi cùng như tiền gửi, thanh toán, ngân quỹ, tư vấn. Tính không Ổn định và khó xác định Sản phẩm dịch vụ ngân hàng được câu thành bởi nhiều yêu tố khác nhau như: quy trình nghiệp vụ.
trình độ đội ngũ nhân viên, kỹ thuật công nghệ. Đồng thời, sự khác nhau cách thực hiện, điều kiện thực hiện, thời gian thực hiện. cũng làm cho chất lượng dịch vụ không ồn định. Vì vậy, các ngân hàng cần thực hiện chuẩn hóa trong phân phối dịch vụ.
Tính không đồng nhất Chính đặc tính vô hình của dịch vụ ngân hàng và sự tham gia của khách hàng trong việc cung ứng dịch vụ đã tạo ra sự đa dạng trong cảm nhận chất lượng dịch vụ ở mỗi khách hàng. Trong việc sử dụng cùng một dịch vụ, khách hàng am hiểu và quen sử dụng sẽ cảm nhận dịch vụ thật tiện ích. Nhưng đôi với khách hàng chưa quen sử dụng thì có thể gặp trở ngại. Do vậy, các ngân hàng cần có những giải pháp làm cho dịch vụ để trở nên dễ hiểu, dễ sử dụng và thiết thực hơn đối với khách hàng.
Dòng thông tin hai chiều Dịch vụ ngân hàng không đơn giản là sự mua sắm một lần rồi kết thúc mà liên quan đến một chuỗi các giao dịch hai chiều thường xuyên trong khoảng thời gian cụ thể. Kiểu 11 tương tác như trên cung cấp cho các ngân hàng những thông tin quý giá về khách hàng liên quan đến sở thích, nhu câu, yêu câu của khách hàng. để từ đó ngân hàng có những điều chỉnh thích hợp trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng.