CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử của NHTM “Những năm trở lại đây, sự phát triển của khoa học công nghệ đã tác động đến mọi mặt của đời sống, kinh tế, xã hội, làm thay đổi nhận thức và phương pháp kinh doanh nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, trong đó có ngành ngân hàng. Cùng với sự thay đổi đó, những khái niệm về thanh toán không dùng tiền mặt, giao dịch trực tuyến, ngân hàng điện tử, … ra đời đã trở thành xu hướng phát triển, gia tăng sự cạnh tranh của các NHTM ở Việt Nam.
Ngân hàng điện tử là xu thế tất yếu mang tính khách quan không chỉ của một ngân hàng mà của hầu hết các ngân hàng thương mại tại Việt Nam và trên thế giới.” Trước khi tiếp cận với khái niệm dịch vụ NHĐT, tác giả tìm hiểu về khái niệm thương mại điện tử vì NHĐT chính là ứng dụng của TMĐT trong lĩnh vực ngân hàng. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới- WTO: “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng internet, nhưng được giao nhận có thể hữu hình hoặc giao nhận qua internet dưới dạng số hoá”. Theo Liên minh châu Âu, “TMĐT bao gồm các giao dịch thương mại thông qua các mạng viễn thông và sử dụng các phương tiện điện tử. Nó bao gồm TMĐT gián tiếp (trao đổi hàng hóa hữu hình) và TMĐT trực tiếp (trao đổi hàng hóa vô hình)”.
Về cơ bản, TMĐT có một số điểm khác biệt so với hoạt động của thương mại truyền thống như: Các bên tiến hành giao dịch trong TMĐT không tiếp xúc trực tiếp với nhau, các giao dịch thương mại sẽ được thực hiện trên nền tảng số trong một thị trường không có biên giới và sẽ có sự 9 tham gia của ít nhất 3 chủ thể trong một giao dịch TMĐT, trong đó có một bên không thể thiếu là người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực. Như vậy, có thể nói TMĐT chính là hướng đi trực tiếp, một giải pháp hữu hiệu trong việc trao đổi hàng hóa, cung cấp dịch vụ, tạo ra một môi trường giao dịch không biên giới làm nên cuộc cách mạng trong ngành thương mại. Trên nền tảng phát triển TMĐT đó thì ứng dụng dịch vụ NHĐT của NHTM cũng ra đời để phục vụ cho nhu cầu thanh toán của sàn thương mại điện tử. TMĐT là việc trao đổi hàng hóa dịch vụ thông qua nền tảng số hóa thì NHĐT có thể hiểu là phương tiện giúp khách hàng thực hiện các giao dịch tài chính với đối tác dưới dạng số hóa với tài khoản ngân hàng.
Thuận ngữ “ngân hàng điện tử” xuất phát từ gốc trong tiếng anh Electronic Banking (E-banking) được wikipedia định nghĩa là “Một dịch vụ sử dụng bằng máy tính và viễn thông, cho phép các giao dịch ngân hàng được thực hiện thông qua điện thoại hoặc máy tính thay vì thông qua sự tiếp xúc trực tiếp giữa người và người. Các tính năng của nó bao gồm chuyển tiền điện tử cho các giao dịch mua bán, máy rút tiền tự động (ATM), chuyển tiền và thanh toán hóa đơn”. Theo tác giả Xuân Anh (2005) thì “Các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy cập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động…) được gọi là dịch vụ NHĐT”. Có thể hiểu theo nghĩa trực quan, ngân hàng điện tử là một loại dịch vụ ngân hàng cho phép các khách hàng sử dụng tiền trong tài khoản để thực hiện các giao dịch thanh toán mà không phải trực tiếp đến tận quầy giao dịch ở ngân hàng.
Hiểu theo nghĩa rộng hơn thì “NHĐT là sự kết hợp giữa hoạt động ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông” 10 Qua những khái niệm nêu trên, tác giả rút ra một khái niệm tổng quát về dịch vụ ngân hàng điện tử như sau: “Ngân hàng điện tử là các giao dịch dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa xảy ra giữa khách hàng (tổ chức, cá nhân) và ngân hàng nhằm cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng” Một số đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử - Tính không hiện hữu:NHĐT là một loại hình dịch vụ do vậy không tồn tại ở dạng vật chất cụ thể mà được thể hiện đánh giá thông qua số lượng giao dịch thực hiện, tốc độ xử lý, mức độ an toàn…” - Tính không ổn định và khó xác định:NHĐT được cấu thành bởi các yêu tố: công nghệ thông tin, nguồn lực ngân hàng, đội ngũ nhân lực. Bên cạnh đó, dịch vụ còn được sử dụng không đồng nhất về điều kiện ở những không gian khác nhau, với cách thức thực hiện và thời gian hoàn thành khác nhau. Do các yếu tố đó thường xuyên biến đổi tạo nên tính không ổn định và khó xác định của sản phẩm.” - Tính không thể tách biệt: Quá trình tiêu dùng dịch vụ xảy ra song song với quá trình cung ứng dịch vụ của ngân hàng, có sự tham gia trực tiếp của khách hàng tại bất kì thời điểm nào khi khách hàng có nhu cầu. Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử của NHTM - Dịch vụ Home Banking “Dịch vụ cho phép khách hàng kiểm soát các giao dịch trên tài khoản của mình ngay tại nơi làm việc, tại nhà ở bất kì khoảng thời gian nào thông qua mạng internet, thư điện tử, điện thoại di động.
Các giao dịch chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, tra cứu tỷ giá, lãi suất, báo Nợ, báo Có… được thực hiện thông qua mạng nội bộ do ngân hàng xây dựng riêng.” - Dịch vụ Phone Banking (Ngân hàng tự động qua điện thoại) “Dịch vụ cung cấp đến khách hàng hệ thống máy chủ đặt tại ngân hàng liên kết với khách hàng qua tổng đài dịch vụ. Sau khi đăng kí dịch vụ với 11 ngân hàng, khách hàng sẽ được cung cấp mã khóa truy cập hệ thống và mã khách hàng. Khi cần thông tin, khách hàng chỉ cần gọi điện thoại về tổng đài và gõ phím chức năng theo hướng dẫn thì các thông tin cá nhân sẽ được cung cấp như số dư tài khoản, báo có, báo nợ, liệt kê giao dịch hay thông tin về tỷ giá, lãi suất, giá chứng khoán, hướng dẫn sử dụng…” - Dịch vụ Internet Banking “Dịch vụ ngân hàng điện tử giúp khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch với ngân hàng thông qua mạng Internet. Không cần cài đặt ứng dụng, khách hàng có thể sử dụng dịch vụ này với bất kì thiết bị nào kết nối được internet.
Mỗi khách hàng khi đăng kí dịch vụ sẽ được cung cấp một tên đăng nhập và mật khẩu đi kèm để truy cập. Mỗi khi thực hiện giao dịch, hệ thống sẽ gửi một mã xác nhận thông qua số điện thoại khách hàng đăng kí với ngân hàng do vậy độ an toàn tương đối cao. Dịch vụ này cũng cung cấp thông tin tài khoản cho khách hàng về số dư, báo nợ, báo có và thực hiện các giao dịch chuyển tiền, gửi tiết kiệm, thanh toán hóa đơn…” - Dịch vụ Mobile Banking: “Mobile banking là kênh phân phối giúp xử lý yêu cầu của khách hàng thông qua thiết bị di động kết nối mạng viễn thông không dây. Để sử dụng dịch vụ thông thường khách hàng sẽ phải cài đặt ứng dụng của ngân hàng, mỗi một NHTM sẽ có một ứng dụng mobile banking riêng.
Bên cạnh các giao dịch phi tài chính như tra cứu số dư, xem thông tin tỷ giá, lãi suất, chứng khoán, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch tài chính như chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, trả nợ vay, gửi tiết kiệm…” - POS (Point of sale) “Là một hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thông qua việc kết nối giữa máy thanh toán tại điểm bán hàng với ngân hàng phát hành thẻ. Khi khách hàng thực hiện thanh toán mua hàng (qua hình thức quẹt thẻ qua máy 12 POS), tiền sẽ tự động được trừ từ tài khoản người mua qua trung gian thanh toán rồi báo có vào tài khoản cho người bán.” - Thẻ thanh toán: “Thẻ thanh toán là loại thẻ do ngân hàng cung cấp cho khách hàng có chức năng thanh toán hàng hóa dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các cây ATM. Thẻ thanh toán hiện nay xét theo chức năng thì được chia làm 3 loại chính nhưng dưới góc độ NHTM phát hành thì còn 2 loại chính.” + Debit Card (thẻ ghi nợ) là “loại thẻ cho phép khách hàng sử dụng tối đa số tiền có trong tài khoản. Có nghĩa là nếu muốn sử dụng thẻ này thì khách hàng phải tạo tài khoản thanh toán và nộp tiền vào tài khoản để chi tiêu.
Có 2 loại thẻ ghi nợ là thẻ ghi nợ nội địa (thẻ ATM) chỉ sử dụng tiêu dùng trong nước và thẻ ghi nợ Quốc tế (thẻ liên kết với các tổ chức thanh toán quốc tế) có thể tiêu dùng ở nước ngoài” + Credit Card (thẻ tín dụng) là “loại thẻ cho phép chi tiêu trước trả tiền sau trong hạn mức được cấp. Có nghĩa là khách hàng được phép dùng trước một khoản tiền của ngân hàng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ sau đó đến ngày nhất định trong tháng phải trả lại số tiền đó cho ngân hàng. Vì được coi là một khoản vay nên để mở được thẻ này, người dùng cần phải chứng minh tài chính thông qua sổ tiết kiệm cầm cố, hoặc qua thu nhập được trả hàng tháng qua ngân hàng và phải qua quá trình xét duyệt để được cấp thẻ. Thông thường thẻ này sẽ được khuyến khích dùng cho thanh toán tiêu dùng mua sắm hơn là rút tiền mặt vì phí rất cao” 1.
Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Đối với ngân hàng Xét trên phương diện tổng quát, dịch vụ ngân hàng điện tử giữ một vai trò rất quan trọng vào quá trình phát triển cho các NHTM: tiếp cận được nhiều khách hàng tiềm năng, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh. 13 Thứ nhất, dịch vụ NHĐT tăng khả năng bán chéo giữa ngân hàng và khách hàng, từ đó gia tăng phát triển mạng lưới khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng cho ngân hàng. Thứ hai, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.