Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thương mại; Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang; Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm dịch vụ ngân hàng điện tử 1.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT) như: Theo Nguyễn Thùy Trang (2018): Ngân hàng điện tử là dịch vụ của ngân hàng cho phép khách hàng có khả năng truy cập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại Ngân hàng, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới. Theo cách hiểu này, dịch vụ NHĐT là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay sử dụng dịch vụ Ngân hàng thông qua việc kết nối mạng máy vi tính của mình với Ngân hàng. Theo Thái Thị Ngọc Huyền (2019): Dịch vụ NHĐT là các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động…) được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử. Theo Nguyễn Thị Bích Ngọc (2019): Dịch vụ NHĐT là một trong những ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm hỗ trợ khách hàng thực hiện các giao dịch truy vấn, chuyển khoản và thanh toán trực tuyến mọi lúc, mọi nơi 8 một cách an toàn, nhanh chóng, thuận tiện và bảo mật nhất.
Theo khoản 6 và khoản 10 điều 4 Luật giao dịch điện tử được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2010 phương tiện điện tử là các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ thông tin điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học điện tử hoặc công nghệ tương ứng. Mạng viễn thông bao gồm mạng internet, mạng điện thoại, mạng vô tuyến, mạng intranet, mạng extranet… (Quốc hội, 2010). Theo Nguyễn Thị Hồng Yến (2019): Dịch vụ NHĐT là khách hàng có thể thực hiện giao dịch ở bất cứ nơi đâu với sự thuận tiện nhất một cách an toàn và bảo mật. Dịch vụ NHĐT cho phép bạn xem số dư tài khoản, thực hiện chuyển khoản, mở tài khoản tiết kiệm trực tuyến hoặc thanh toán hóa đơn… ngay tại nhà, tại nơi làm việc hoặc ngay cả khi bạn đang đi du lịch.
Như vậy, có thể hiểu dịch vụ NHĐT là một loại dịch vụ mà khách hàng có thể thực hiện nhưng không phải đến ngân hàng, hiểu theo nghĩa rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông là một ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cho phép khách hàng có thể tìm hiểu thông tin hay thực hiện một số giao dịch ngân hàng thông qua phương tiện điện tử dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ ngân hàng điện tử có một số đặc điểm sau: - Nhanh chóng và thuận tiện: Dịch vụ NHĐT là một kênh giao dịch có thể giúp khách hàng liên lạc với ngân hàng một cách nhanh chóng, dễ dàng, tại bất cứ thời điểm nào (24 giờ, 7 ngày trong tuần) và ở bất cứ nơi đâu. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với những người có ít thời gian để đến ngân hàng giao dịch, các khách hàng vừa, nhỏ, khách hàng cá nhân có số tiền giao dịch không quá lớn hoặc phát sinh 9 các giao dịch cần đáp ứng tức thời. - Tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu: Chi phí cho kênh giao dịch dịch vụ NHĐT được đánh giá là có mức rất thấp so với các kênh giao dịch truyền thống, từ đó góp phần tăng doanh thu hoạt động cho ngân hàng.
- Mở rộng phạm vi hoạt động và tăng khả năng cạnh tranh: Dịch vụ NHĐT là một giải pháp của NHTM nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của NHTM. Một điều hết sức quan trọng khác, dịch vụ NHĐT giúp cho các NHTM thực hiện được chiến lược toàn cầu hóa mà không nhất thiết phải mở thêm chi nhánh trong nước cũng như nước ngoài. Dịch vụ ngân hàng điện tử còn là một công cụ quảng bá thương hiệu đắc lực cho các NHTM. - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Xét dưới góc độ kinh doanh, dịch vụ NHĐT là công cụ hữu hiệu giúp các NHTM nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Thông qua hệ thống điện tử, giao dịch của khách hàng được thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả giúp luồng tiền, hàng hóa di chuyển nhanh và chính xác. - Tăng khả năng chăm sóc và thu hút khách hàng: Chính nhờ sự tiện ích khai thác được từ hệ thống công nghệ thông tin, phần mềm, nhà cung cấp dịch vụ NHĐT đã thu hút, làm hài lòng khách hàng, giúp ngân hàng gia tăng thêm số lượng khách hàng truyền thống, từ đó có nhiều chính sách ưu đãi hơn nữa đối với các khách hàng thân thuộc này. - Cung cấp dịch vụ trọn gói: Điểm đặc biệt này của dịch vụ NHĐT tạo nên nét riêng đối với các dịch vụ thương mại điện tử khác và là lợi thế cực kì quan trọng của dịch vụ ngân hàng điện tử. Theo đó, khi các ngân hàng liên kết với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính khác để đưa ra các gói sản phẩm tiện ích nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của một khách hàng 10 hay của nhóm khách hàng, vừa tăng tính tiện lợi cho khách hàng, vừa tăng thu nhập nhờ các hoạt động bán chéo sản phẩm.
Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Đối với nền kinh tế Thứ nhất, Tăng khả năng lưu thông tiền tệ, tiền mặt để trong két sẽ không tham gia vào quá trình lưu thông nhưng để trong các ngân hàng thì sẽ tạo ra một nguồn vốn lớn cho nền kinh tế. Nguồn vốn này sẽ tiếp tục được tái đầu tư phát triển kinh tế đất nước, đảm bảo an sinh xã hội, đầu tư cho giáo dục. Thứ hai, quá trình thanh toán không dùng tiền mặt thông qua các dịch vụ ngân hàng điện tử sẽ giúp Nhà nước giảm được các chi phí khi lưu thông tiền mặt như: chi phí in ấn, chi phí bảo quản và vận chuyển tiền mặt, chống lạm phát.
Thứ ba, việc thanh toán qua ngân hàng sẽ minh bạch thu - chi của các doanh nghiệp nên hạn chế được việc trốn lậu thuế. Đồng thời, việc trả lương qua thẻ ATM và thanh toán qua ngân hàng sẽ kiểm soát được thu nhập các cá nhân hạn chế được tình trạng tham nhũng. Đối với ngân hàng Thứ nhất, tạo điều kiện cho hoạt động vốn của Ngân hàng: Việc sử dụng dịch vụ NHĐT đòi hỏi các khách hàng phải mở tài khoản và duy trì số dư trong tài khoản từ đó Ngân hàng có thể sử dụng tạm thời các số dư đó vào trong các hoạt động khác của mình. Thứ hai, thúc đẩy quá trình cho vay thông qua chức năng ghi nợ đối với các tài khoản của khách hàng một số tiền nhất định khi sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt.
Thứ ba, giúp Ngân hàng thực hiện chức năng tạo tiền: việc thanh toán thông qua các dịch vụ ngân hàng điện tử bản chất nó không cần dùng đến tiền 11 mà Ngân hàng có thể sử dụng lệnh chi vào trong các hoạt động đó. Đối với khách hàng Thứ nhất, tạo ra sự tiện ích: có thể lựa chọn nhiều phương thức thanh toán phù hợp với thời gian, công việc người sử dụng dịch vụ. Thứ hai, sử dụng hình thức thanh toán qua thẻ ngân hàng vẫn thanh toán cho khách hàng những hóa đơn mà quá số dư trong tài khoản ngân hàng của mình (nếu khách hàng có thẻ tín dụng ). Thứ ba, tiết kiệm thời gian: khi hệ thống hạ tầng viễn thông phát triển thì các cá nhân có thể giao dịch qua internet, mobile,… mà không cần đến các cửa hàng hay siêu thị.
Quá trình thanh toán được thực hiện qua hệ thống thanh toán điện tử. Như vậy, các tổ chức hoặc cá nhân có thể giao dịch mà không phải mất nhiều thời gian, chi phí đi lại giao dịch. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Dịch vụ thẻ Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ, hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp, dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động (như máy ATM, máy POS).
Có thể phân loại thẻ theo một số tiêu chí như sau: Căn cứ vào phạm vi sử dụng: - Thẻ nội địa: Là loại thẻ do ngân hàng phát hành cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch chuyển khoản, rút tiền trong phạm vi số tiền khả dụng có trong tài khoản ngân hàng trong phạm vi quốc gia phát hành thẻ. - Thẻ quốc tế: Là loại thẻ cho phép khách hàng cá nhân là chủ thẻ sử dụng số tiền trong phạm vi số dư có trong tài khoản thẻ mở tại ngân hàng trong nước để thanh toán tiền mua sắm hàng hóa, dịch vụ, hoặc rút tiền mặt 12 tại ATM trong và ngoài nước (miễn là nơi đó có dịch vụ hỗ trợ thanh toán bằng các loại thẻ này) mà không cần phải mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng nước ngoài. Căn cứ vào các tính chất thanh toán: - Thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng cho phép khách hàng cá nhân là chủ thẻ được chi tiêu trước, trả tiền sau theo một hạn mức tín dụng nhất định do ngân hàng cấp theo quy định của ngân hàng. Sử dụng thẻ tín dụng khách hàng được miễn lãi tối đa một số ngày theo quy định của các NHTM kể từ ngày giao dịch đối với giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ, thanh toán phí, lãi.