CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng điện tử Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Trên thế giới, dịch vụ ngân hàng điện tử (internet banking) được cung ứng từ khá sớm, năm 1980 dịch vụ này được cung ứng bởi một ngân hàng ở Scotland (Tait, Fand Davis, 1989). Tuy nhiên, vào năm 1990 dịch vụ này mới chính thức được cung ứng bởi các ngân hàng (Daniel, 1998), sau đó ngày càng phát triển. Hiện nay có nhiều cách định nghĩa về internet banking, khái niệm chung nhất có thể hiểu: Internet banking là một dịch vụ ngân hàng điện tử, là kênh phân phối từ xa các dịch vụ ngân hàng, với máy tính kết nối internet, khách hàng có thể thực hiện các dịch vụ của ngân hàng mọi lúc, mọi nơi.
Lưu Thanh Thảo (2008): Dịch vụ ngân hàng điện tử hiểu theo nghĩa trực quan nhất là sự kết hợp của hoạt động ngân hàng với phương tiện điện tử. Đây là kết quả tất yếu của quá trình phát triển công nghệ thông tin ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Trương Đức Bảo (2003): Có quan niệm cho rằng dịch vụ ngân hàng điện tử là dịch vụ của ngân hàng cho phép khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới. Trần Thị Thu Hiền (2013): Ngân hàng điện tử là một dạng của thương mại điện tử ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Đây chính là sự kết hợp giữa một số dịch vụ ngân hàng truyền thống với CNTT và điện tử viễn thông. Khi có nhu cầu giao dịch, khách hàng không nhất thiết phải đến ngân hàng mà vẫn phải thực hiện một cách nhanh chóng qua các kênh phân phối điện tử. Theo Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 của Quốc Hội ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 có đề cập đến khái niệm giao dịch điện tử và phương tiện điện tử: Điều 4: Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điệntử. Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện tử, kỹ thuật 6 số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự.
Theo quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 07 năm 2006: Hoạt động ngân hàng điện tử là hoạt động ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử. Kênh phân phối điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý dịch vụ được các tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Dịch vụ ngân hàng điện tử bao gồm tất cả các dạng của giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân hoặc tổ chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng đã định nghĩa về dịch vụ NHĐT.
Các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục 24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua kênh phân phối: Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM, POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động…được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử. Tóm lại, hiểu theo nghĩa trực quan đó là một loại dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch gặp nhân viên ngân hàng. Hiểu theo nghĩa rộng hơn đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông. E-Banking là một dạng của thương mại điện tử (electronic commerce hay e-commerce) ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Quá trình hình thành và phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử Có thể nói dịch vụ NHĐT ra đời vào năm 1989 khi ngân hàng Well Fargo của Mỹ lần đầu tiên cung cấp dịch vụ ngân hàng qua mạng. Cho đến nay qua rất nhiều nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng, hệ thống ngân hàng điện tử đã trở nên hoàn thiện, hiện đại đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Nhìn chung, hệ thống NH ĐT phát triển trải qua các giai đoạn sau: Giai đoạn 1 (Brochure-ware): Mục đích ứng dụng mạng internet để quảng cáo, đây là giai đoạn ở hình thái đơn giản nhất và hầu hết các ngân hàng khi mới bắt đầu 7 phát triển dịch vụ NHĐT đều lựa chọn. Về thực chất, quảng cáo trên internet là việc xây dựng một tên miền (website) trong đó cho biết những thông tin cơ bản nhất về một NHTM, bao gồm hoạt động và các sản phẩm dịch vụ được NHTM đó cung cấp, trên mạng Internet.
Tóm lại Brochure-ware đã đặt nền tảng cho sự phát triển các dịch vụ NHĐT trong các giai đoạn sau này. Giai đoạn 2 (Internet banking information): Mục đích ứng dụng tra cứu thông tin hay vấn tin tài khoản qua mạng. Ở giai đoạn này, các ngân hàng đã sử dụng internet và website riêng như một kênh phân phối mới cho những dịch vụ tài chính. Điều đáng lưu ý là trước đây, khách hàng chỉ có thể được cung cấp dụng các dịch vụ này một cách định kỳ qua hệ thống bưu điện hoặc phải hiện diện tại các trụ sở giao dịch của NHTM.
Ở giai đoạn này, Internet thực sự đã có vai trò như một dịch vụ mang lại ‘giá trị gia tăng‘ cho sự thuận lợi và tiết kiệm cả về thời gian cũng như tiền bạc cho khách hàng, nên nhờ đó ngân hàng trở nền gần gũi hơn đối với công chúng. Giai đoạn 3 (Internet banking): Là giai đoạn sử dụng Internet và khoa học công nghệ để tăng sự liên kết, trong đó các tác nghiệp và những xử lý cơ bản của ngân hàng được tích hợp giữa Internet với các kênh thông tin để phân phối dữ liệu. Giai đoạn này được phân biệt với hai giai đoạn sơ khai ở trên bởi sự gia tăng về số lượng sản phẩm và có sự phân biệt sản phẩm theo nhu cầu và quan hệ của khách hàng đối với ngân hàng. Hơn thế nữa, sự phối hợp, chia sẻ dữ liệu giữa hội sở ngân hàng và các kênh phân phối như chi nhánh được thông qua mạng Internet.
Từ đó việc xử lý các yêu cầu và phục vụ khách hàng, doanh nghiệp, cơ quan quản lý Nhà nước được nhanh chóng, chính xác. Giai đoạn 4 (Electronic banking): Đây là giai đoạn mà mô hình lý tưởng của một ngân hàng trực tuyến trong nền kinh tế điện tử, một sự thay đổi hoàn toàn trong mô hình kinh doanh và phong cách quản lý hoạt động của các NHTM. Từ những bước ban đầu là cung cấp những sản phẩm, dịch vụ hiện hữu thông qua nhiều kênh riêng biệt, ngân hàng có thể sử dụng tích hợp tất cả các kênh thông tin đó nhằm cung cấp nhiều giải pháp khác nhau cho từng đối tượng khách hàng chuyên biệt. Thông qua sức mạnh của mạng toàn cầu cung cấp đến cho khách hàng những dịch vụ ngân hàng tiện ích nhất bằng các kênh phân phối riêng biệt, đưa ra các giải pháp tài chính 8 hiệu quả, khách hàng có thể thực hiện tất cả các giao dịch tài chính mà không cần đến quầy giao dịch của ngân hàng.
Đặc trưng của dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ ngân hàng điện tử có tốc độ xử lí giao dịch nhanh chóng và tiện lợi Dịch vụ ngân hàng điện tử cho phép khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng với thời gian ngắn nhất. Trong thời đại hiện nay quỹ thời gian của mọi người càng trở nên eo hẹp, khách hàng mong muốn chỉ ngồi một chỗ và kích chuột là có thể thực hiện được giao dịch của mình. Hiện nay thời gian xử lí cho một giao dịch ngày càng giảm, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin. Các ngân hàng đều chú trọng nâng cấp hệ thống core banking để có thể mang lại những dịch vụ ngân hàng điện tử ổn định nhất, có thời gian xử lí giao dịch nhanh nhất để làm hài lòng khách hàng.
Đối với những khách hàng có ít thời gian đi đến ngân hàng để trực tiếp giao dịch, các khách hàng nhỏ và vừa, khách hàng cá nhân có số lượng giao dịch không nhiều, số tiền cho mỗi lần giao dịch là không lớn, thì NHĐT là một giải pháp nhằm tiết kiệm thời gian cho khách hàng. Dịch vụ ngân hàng điện tử không bị giới hạn về không gian, thời gian Khách hàng không cần phải đến ngân hàng kí vào giấy tờ, viết phiếu chuyển tiền, chờ xếp hàng,… họ chỉ cần thực hiện giao dịch trên máy tính, mày điện thoại, gọi một cuộc điện thoại,…tại nhà, tại phòng làm việc, ở quán cà phê,… Khách hàng có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian di chuyển, xếp hàng chờ giao dịch nhờ đó nắm bắt được nhiều cơ hội hơn. Chí trong giây lát, với các phương tiện truyền dẫn hiện đại, khách hàng có thể kiểm tra được tài khoản, thanh toán phí dịch vụ, chuyển khoản, thực hiện các giao dịch thanh toán tiền - mua hàng,. để kịp thời nắm bắt các cơ hội đầu tư, kinh doanh.
Mọi thứ diễn ra rất nhanh chóng, tức thời thông qua hệ thống xử lý tự động của ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng điện tử có chi phí giao dịch thấp nhất Ngoài việc tiết kiệm được chi phí đi lại, giảm thiểu được các chi phí cơ hội do việc tiết kiệm thời gian thì nhìn trên biểu phí của một ngân hàng, dịch vụ ngân hàng điện tử luôn có mức phí thấp nhất. Điều này cũng xuất phát từ việc bản thân ngân 9 hàng không mất các chi phí về thuê địa điểm, chi phí trả lương cho nhân viên, chi phí hành chính, chi phí cho giấy tờ hạch toán, chi phí kiểm đếm… nên khách hàng cũng được hưởng mức phí sử dụng thấp hơn rất nhiều. Vốn đầu tư lớn Để xây dựng một hệ thống ngân hàng điện tử thành công, ngân hàng phải bỏ ra một số vốn đầu tư ban đầu khá lớn để có được công nghệ hiện đại và hoạt động một cách an toàn, đi kèm theo đó còn có các chi phí bảo trì, chi phí sửa chữa, chi phí dự phòng, chi phí cải thiện, đổi mới công nghệ, v.Ngoài ra ngân hàng bỏ ra khoản chi phí để đào tạo một đội ngũ nhân viên CNTT, cán bộ kỹ thuật chuyên nghiệp.