Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại NHTM. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Thực trạng phát triển dịch vụ NHBL tại Vietcombank và kết quả khảo sát khách hàng về chất lượng dịch vụ NHBL.
Chương 5: Kết luận và giải pháp nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Vietcombank. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm về phát triển Theo Hội đồng biên soạn (1995) về Từ điển Bách khoa Việt Nam thuật ngữ phát triển được định nghĩa là “phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là một thuộc tính của vật chất. Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong, nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” (Hội đồng biên soạn, 1995).
Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Anh Thủy (2013), phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra, và hướng theo xu thế phủ định của phủ định. Như vậy, phát triển là sự tăng lên về số lượng và chất lượng (Phạm Anh Thủy, 2013). Theo tác giả Bùi Đình Thanh (2015), khái niệm phát triển chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX; cụ thể là những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Đến những năm 30, khái niệm phát triển mới gắn với kinh tế, và lúc này người ta sử dụng nó gần như đồng nhất với phát triển kinh tế.
Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ (Bùi Đình Thanh, 2015). Theo nghiên cứu của Todaro & Smith (2015), phát triển là quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống và khả năng của con người bằng cách nâng cao mức sống, lòng tự trọng và tự do của con người. Từ định nghĩa trên, tác giả đã đưa ra định nghĩa về sự phát triển của kinh tế, sự phát triển của kinh tế ở một mức độ lớn hơn kinh tế tân 7 cổ điển truyền thống hay thậm chí kinh tế chính trị, phải quan tâm đến các yêu cầu kinh tế, văn hóa và chính trị để thực hiện các chuyển đổi cơ cấu và thể chế nhanh chóng của toàn xã hội theo cách mang lại hiệu quả nhất về kinh tế tiến tới các phân khúc rộng nhất trong đời sống xã hội của người dân. Sự phát triển của kinh tế là nghiên cứu về cách các nền kinh tế được chuyển đổi từ trì trệ sang tăng trưởng và từ tình trạng thấp kém sang thu nhập cao, và khắc phục các vấn đề nghèo đói tuyệt đối (Todaro, Michael P.2 Khái quát về dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ 2.1 Khái niệm về dịch vụ Theo nghiên cứu của Heskett (1986), dịch vụ là cách thức mà một tổ chức muốn có các dịch vụ của mình được nhận thức bởi các khách hàng, nhân viên, cổ đông và người cho vay, tức là đề xuất kinh doanh của tổ chức.
Nhóm tác giả Edvardsson và Olsson (1996) đã đưa ra khái niệm dịch vụ như sau: dịch vụ là mô tả chi tiết về những gì sẽ được thực hiện cho khách hàng (những nhu cầu và mong muốn được thỏa mãn) và làm thế nào để đạt được điều này. Họ nhấn mạnh việc phát triển khái niệm dịch vụ như một giai đoạn quan trọng trong thiết kế và phát triển dịch vụ (Edvardsson, B. Edvardsson và cộng sự (2000) định nghĩa dịch vụ là một mô tả chi tiết về khách hàng cần được thỏa mãn, làm thế nào để họ hài lòng, phải làm gì cho khách hàng và làm thế nào để đạt được điều này. Dịch vụ đóng một vai trò quan trọng trong thiết kế và phát triển dịch vụ.
Khái niệm dịch vụ xác định cách thức và nội dung của thiết kế dịch vụ và giúp hòa giải giữa nhu cầu của khách hàng và mục đích chiến lược của tổ chức. Nhóm tác giả đã xác định khái niệm dịch vụ và mô tả cách sử dụng dịch vụ để tăng cường nhiều quy trình thiết kế dịch vụ (Goldstein và cộng sự, 2002). “Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp 8 mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu”. Theo định nghĩa AMA (Hiệp hội Marketing Mỹ): Dịch vụ là những hoạt động có thể riêng biệt nhưng phải mang tính vô hình nhằm thoả mãn nhu cầu, mong muốn của khách hàng, theo đó dịch vụ không nhất thiết phải sử dụng sản phẩm hữu hình, nhưng trong mọi trường hợp đều không diễn ra quyền sở hữu một vật nào cả.
Theo đó, dịch vụ có những đặc điểm sau đây (Nguyễn Hoàng Tiến, 2019): - Dịch vụ có đặc tính không hiện hữu: đây là đặc điểm cơ bản của dịch vụ. Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể. Tuy vậy sản phẩm dịch vụ vẫn mang nặng tính vật chất. Tính không hiện hữu của dịch vụ gây nhiều khó khăn cho quản lý hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ, khó khăn hơn cho marketing dịch vụ và khó khăn hơn cho việc nhận biết dịch vụ.
- Dịch vụ có tính không đồng nhất: sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hóa được. Trước hết do hoạt động cung ứng, các nhân viên cung cấp không thể tạo ra được các dịch vụ như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau. Hơn nữa khách hàng tiêu dùng là người quyết định chất lượng dịch vụ dựa vào những cảm nhận của họ trong những thời gian khác nhau, sự cảm nhận cũng khác nhau, những khách hàng khác nhau có sự cảm nhận khác nhau. Sản phẩm dịch vụ có giá trị khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của khách hàng.
- Dịch vụ có đặc tính không tách rời: sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ. Các sản phẩm dịch vụ có thể là không đồng nhất mang tính hệ thống, đều từ cấu trúc của dịch vụ cơ bản phát triển thành. Quá trình sản xuất gắn liền với tiêu dùng dịch vụ. Người tiêu dùng cũng tham gia hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ cho mình.
Như vậy việc sản xuất dịch vụ phải thận trọng, phải có khách hàng, có nhu cầu thì quá trình sản xuất mới có thể tiến hành được. - Sản phẩm dịch vụ mau hỏng: Dịch vụ không thể tồn kho, không cất trữ và không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác. Do vậy việc tiêu dùng dịch vụ bị hạn chế bởi thời gian. Cũng từ đặc điểm này mà làm mất cân bằng cân đối quan hệ cung cầu cục bộ giữa thời điểm khác nhau trong cùng một thời gian.
Đặc tính mau 9 hỏng của dịch vụ quy định sản xuất và tiêu dùng phải đồng thời, tiếp tục trong thời gian giới hạn. Nếu không tuân thủ những điều kiện đó sẽ không có cơ hội mua bán và tiêu dùng dịch vụ.2 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng bán lẻ Từ những quan điểm về dịch vụ nói trên, khái niệm về dịch vụ NHBL được trình bày như sau: NHTM là trung gian tài chính và cung cấp những dịch vụ tài chính lớn nhất và có ảnh hưởng nhất đến nền kinh tế và sự phát triển của các sản phẩm dịch vụ tài chính do các mối liên kết mạnh mẽ giữa các chủ thể trong nền kinh tế với nhau. Những phát triển gần đây trong dịch vụ NHBL cũng như sự mở rộng của rất nhiều dịch vụ được cung cấp thường được mô tả là hiện tượng theo hướng công nghệ (Consoli, 2003). Dịch vụ NHBL là các sản phẩm và dịch vụ mà NHTM cung cấp cho người tiêu dùng và doanh nghiệp nhỏ thông qua các phòng giao dịch, chi nhánh ngân hàng, Internet và các kênh khác.
Theo định nghĩa này, các ngân hàng tổ chức các hoạt động bán lẻ của họ theo ba khía cạnh bổ sung: khách hàng được phục vụ, sản phẩm và dịch vụ được cung cấp và các kênh phân phối liên kết khách hàng với sản phẩm và dịch vụ. Về mặt sản phẩm và dịch vụ tài chính, nhận tiền gửi là dịch vụ NHBL cốt lõi và quan trọng của NH. Về mặt tài sản, các sản phẩm ngân hàng bán lẻ quan trọng là tín dụng tiêu dùng và cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ (Clark và cộng sự 2007). Trong nghiên cứu của tác giả Vũ Hồng Thanh (2018), định nghĩa về dịch vụ NHBL chưa có sự thống nhất và hầu như các quan điểm về dịch vụ NHBL dựa trên loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp hoặc các đối tượng khách hàng mà các sản phẩm – dịch vụ hướng tới.
Ngân hàng bán lẻ là hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính chủ yếu cho khách hàng là các cá nhân, các hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Vũ Hồng Thanh, 2018). Từ những quan điểm nêu trên, dịch vụ NHBL tác giả khái quát về dịch vụ NHBL như sau: dịch vụ NHBL là các dịch vụ tài chính do các NHTM cung cấp với các sản phẩm dịch vụ như huy động vốn, cho vay, hoạt động thanh toán, hoạt động thẻ, dịch 1 vụ kinh doanh ngoại hối, dịch vụ ngân hàng điện tử… đến các đối tượng khách hàng bao gồm các cá nhân, hộ gia đình và các DNNVV.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ - Đối tượng khách hàng đa dạng: bao gồm KHCN, hộ gia đình và các DNNVV (Clark & cộng sự 2007; Pandi & Murali, 2017). Đặc biệt đối với nhóm KHCN, những đối tượng khách hàng này có sự đa dạng về độ tuổi, trình độ học vấn, vị trí xã hội, thu nhập, nhu cầu tiêu dùng đối với các sản phẩm dịch vụ tài chính khác nhau (Trương Minh Thuận, 2018).