Luận văn về phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Tổng hợp kiến thức Phát triển dịch vụ logistics Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

99
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH SÁCH CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS

1.1. Tổng quan về logistics

1.2. Sự ra đời và phát triển của logistics

1.3. Khái niệm logistics

1.4. Phân loại logistics

1.5. Tổng quan về dịch vụ logistics

1.5.1. Khái niệm dịch vụ logistics

1.5.2. Vai trò của dịch vụ logistics

1.5.3. Phân loại dịch vụ logistics

1.5.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ logistics

1.5.5. Xu hướng phát triển dịch vụ logistics trên thế giới

1.6. Chỉ tiêu đánh giá dịch vụ logistics

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOGISTICS CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

2.1. Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2010-2020

2.1.1. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc vận tải đường bộ

2.1.2. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc vận tải biển

2.1.3. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc vận tải đường sắt

2.1.4. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc vận tải đường thủy nội địa

2.1.5. Các dịch vụ hỗ trợ vận tải

2.2. Quá trình mở cửa dịch vụ logistics theo các cam kết quốc tế và cơ chế, chính sách đối với phát triển dịch vụ logistics

2.2.1. Chính sách pháp luật về logistics

2.2.2. Các hoạt động hội nhập của Việt Nam trên cơ sở chính sách pháp luật về logistics

2.3. Đánh giá chung về phát triển dịch vụ logistics của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2010-2020

2.3.1. Kết quả đạt được

2.3.2. Nguyên nhân của các hạn chế

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2021-2025

3.1. Dự báo triển vọng phát triển

3.1.1. Bối cảnh quốc tế. Bối cảnh trong nước

3.1.2. Định hướng phát triển

3.1.3. Sự phát triển của 3PL và 5PL

3.1.4. Phân tích SWOT đối với phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam

3.1.5. Thách thức

3.2. Giải pháp phát triển dịch vụ logistics trong giai đoạn 2021 - 2025

3.2.1. Giải pháp về xây dựng chiến lược, quy hoạch

3.2.2. Giải pháp về chính sách hỗ trợ và thu hút đầu tư

3.2.3. Giải pháp về nguồn nhân lực

3.2.4. Giải pháp về công nghệ thông tin

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ logistics

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, logistics Việt Nam đã trở thành một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Dịch vụ logistics không chỉ đơn thuần là việc vận chuyển hàng hóa mà còn bao gồm nhiều hoạt động khác như quản lý chuỗi cung ứng, lưu kho, và phân phối. Theo đó, việc phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất và phân phối, từ đó giảm thiểu chi phí và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Các nghiên cứu cho thấy rằng, phát triển logistics có thể tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp và góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi mà kinh tế quốc tế đang có những biến động lớn, việc cải thiện chuỗi cung ứngvận tải hàng hóa là rất cần thiết để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

1.1 Tổng quan về logistics

Logistics, hay còn gọi là hậu cần, đã có một lịch sử phát triển dài và phức tạp. Từ những ngày đầu, logistics chủ yếu được sử dụng trong quân đội để đảm bảo cung cấp lương thực và trang thiết bị cho lực lượng chiến đấu. Ngày nay, logistics đã trở thành một phần không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh, giúp các doanh nghiệp quản lý và tối ưu hóa quy trình cung ứng. Việc hiểu rõ về công nghệ logistics và các xu hướng mới trong ngành là rất quan trọng để các doanh nghiệp có thể cạnh tranh hiệu quả trong thị trường logistics toàn cầu.

1.2 Vai trò của dịch vụ logistics

Dịch vụ logistics đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các hoạt động sản xuất và tiêu thụ hàng hóa. Nó không chỉ giúp giảm thiểu chi phí vận chuyển mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng. Theo các chuyên gia, dịch vụ logistics hiệu quả có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong việc thu hút và giữ chân khách hàng. Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, việc phát triển dịch vụ logistics còn giúp các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường và gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

II. Thực trạng phát triển logistics của Việt Nam

Trong giai đoạn 2010-2020, dịch vụ logistics tại Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Theo báo cáo, vận tải hàng hóa chủ yếu vẫn dựa vào các phương thức truyền thống, dẫn đến hiệu quả chưa cao. Các doanh nghiệp logistics Việt Nam cần phải cải thiện công nghệ logistics và nâng cao chất lượng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Hơn nữa, việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực logistics cũng cần được thúc đẩy để học hỏi kinh nghiệm và công nghệ từ các nước phát triển. Điều này sẽ giúp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong lĩnh vực logistics.

2.1 Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics

Hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2020 đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết như chất lượng dịch vụ, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực. Các doanh nghiệp logistics cần phải đầu tư vào công nghệ logistics hiện đại và cải thiện quy trình quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động. Bên cạnh đó, việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cũng là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành logistics tại Việt Nam.

2.2 Chính sách pháp luật về logistics

Chính sách pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển dịch vụ logistics tại Việt Nam. Các quy định và chính sách cần phải được hoàn thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Việc xây dựng một khung pháp lý rõ ràng và minh bạch sẽ giúp các doanh nghiệp logistics dễ dàng tiếp cận các nguồn lực và cơ hội đầu tư. Hơn nữa, chính sách hỗ trợ từ chính phủ cũng cần được tăng cường để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ logistics và nâng cao chất lượng dịch vụ.

III. Giải pháp phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam

Để phát triển dịch vụ logistics trong giai đoạn 2021-2025, Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp quan trọng. Đầu tiên, cần xây dựng một chiến lược phát triển logistics toàn diện, bao gồm việc cải thiện cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ. Thứ hai, cần tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm và công nghệ từ các nước phát triển. Cuối cùng, việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cũng cần được chú trọng để đảm bảo rằng các doanh nghiệp có đủ năng lực để cạnh tranh trong thị trường logistics toàn cầu.

3.1 Giải pháp về chính sách hỗ trợ và thu hút đầu tư

Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể để thu hút đầu tư vào lĩnh vực logistics. Các chính sách này có thể bao gồm việc giảm thuế, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp mới và cải thiện cơ sở hạ tầng logistics. Hơn nữa, việc tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi sẽ giúp các doanh nghiệp logistics phát triển mạnh mẽ hơn. Điều này không chỉ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành logistics mà còn góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam.

3.2 Giải pháp về công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của dịch vụ logistics. Các doanh nghiệp cần đầu tư vào các hệ thống quản lý hiện đại để tối ưu hóa quy trình vận chuyển và lưu kho. Việc áp dụng công nghệ thông tin sẽ giúp các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ. Hơn nữa, việc sử dụng công nghệ thông tin cũng giúp các doanh nghiệp dễ dàng theo dõi và quản lý hàng hóa trong quá trình vận chuyển, từ đó nâng cao sự hài lòng của khách hàng.

25/01/2025
Luận văn tốt nghiệp phát triển dịch vụ logistics của việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS 1.1 Tổng quan về logistics 1.1 Sự ra đời và phát triển của logistics Thuật ngữ logistics dịch ra tiếng Việt là “hậu cần”, “ngành hậu cần” hay “tiếp vận” hoặc là “tổ chức dịch vụ cung ứng” hay “hệ thống phân phối vật chất”. Như được nói trên, thuật ngữ này là một thuật ngữ quân sự, dùng trong quân đội. Logistics được coi là một nhánh trong nghệ thuật chiến đấu, đó chính là việc vận chuyển và cung cấp lương thực, thực phẩm, trang thiết bị… đúng lúc đúng chỗ khi cần thiết cho lực lượng chiến đấu. Ngày nay thuật ngữ “logistics" đã được phát triển, mở rộng với nghĩa là quản lý “management”.

Trong khi nghiên cứu lĩnh vực này, tùy theo giác độ tiếp cận các học giả có thể sử dụng các thuật ngữ như: logistics kinh doanh, logistics in bound, logistics out bound; phân phối vật chất, quản lý nguyên vật liệu, kỹ thuật hay quản lý logistics thì đây đều là các thuật ngữ diễn tả cùng một chủ đề, đó chính là cái mà chúng ta gọi là logistics. Logistics diễn tả toàn bộ quá trình vận động của nguyên vật liệu và sản phẩm đi vào – qua và đi ra khỏi doanh nghiệp tới khâu phân phối tới tay người tiêu dùng Từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay, công nghiệp và thương mại thế giới trải qua những biến đổi sâu sắc từ nền kinh tế dựa trên cơ sở sản xuất hàng loạt đòi hỏi một lượng hàng hóa lớn đồng nhất sang nền kinh tế mà tính độc đáo và đa dạng của hàng hóa được nhấn mạnh. Trong buôn bán, người bán không nhất thiết là người sản xuất, người mua cũng không chắc là người tiêu dùng cuối cùng. Quá trình hàng hóa từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng có thể trải qua nhiều trung gian lần lượt đóng vai trò người bán hay người mua và là một bộ phận của toàn bộ quá trình lưu thông hàng hóa.

Tính phong phú của hàng hóa cùng với sự vận động phức tạp của chúng đòi hỏi phải có một sự quản lý chặt chẽ, điều này đã đặt ra cho các nhà sản xuất kinh doanh một yêu cầu mới. Đồng thời để tránh đọng vốn, các nhà sản xuất phải 8 Luan van luôn tìm cách duy trì một lượng hàng tồn kho nhỏ nhất. Từ những lí do trên yêu cầu hoạt động vận tải nói riêng và lưu thông hàng hóa nói chung phải đảm bảo cho nguyên liệu hàng hóa được cung ứng kịp thời, đúng lúc, mặt khác phải tăng cường vận chuyển với mục tiêu không để hàng trong kho nhằm giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh trong quá trình sản xuất và lưu thông- logistics trong doanh nghiệp đã ra đời Theo nghiên cứu của Ủy Ban Kinh tế và Xã hội châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and Pacific – ESCAP) của liên hiệp quốc về các giai đoạn phát triển của logistics, người ta chia thành 3 giai đoạn như sau: - Giai đoạn 1: phân phối vật chất (Physical Distribution) - Giai đoạn 2: Hệ thống logistics (logistics system) - Giai đoạn 3: Quản lý dây chuyền cung cấp ( Supply Chain Management) Như vậy logistics được phát triển từ việc áp dụng các kỹ năng “tiếp cận”, “hậu cần” trong quân đội để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tế sản xuất – kinh doanh và cho đến nay được hoàn thiện trở thành hệ thống quản lý mang hiệu quả kinh tế cao.2 Khái niệm logistics Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ logistics khác nhau, tuy nhiên, có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau: Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc (UNESCAP), khái niệm “logistics” được giải thích như sau: Logistics được hiểu là việc quản lý dòng chu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xử lý các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng. Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (CLM), nay đổi tên thành Hội đồng các nhà quản trị chuỗi cung ứng chuyên nghiệp (The Council of Supply Chain 9 Luan van Management Professionals – CSCMP), logistics là một bộ phận của dây chuyền cung ứng tiến hành lập ra kế hoạch, thực hiện và kiểm soát công việc chu chuyển, lưu kho hàng hóa, xử lý thông tin, cùng với các dịch vụ liên quan từ địa điểm xuất phát đến nơi tiêu dùng một cách hiệu lực, hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

Logistics là một quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lý việc chu chuyển và lưu kho có hiệu quả hàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng (Đại học Hàng Hải thế giới - World Maritime University, D. Lambert 1998) Theo khái niệm của Liên hiệp quốc sử dụng cho khóa đào tạo quốc tế về vận tải đa phương thực và quản trị logistics tổ chức tại Đại Học Ngoại Thương Hà Nội (tháng 10/2002), logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng. Theo Coyle, Bardi & Langley, logistics là phần quá trình của chuỗi cung ứng giữ vai trò lập kế hoạch, triển khai và kiểm soát hiệu quả dòng chảy và việc cất giữ hàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan từ điểm nguồn tới điểm tiêu thụ với mục tiêu thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Ngoài ra, còn có các cách định nghĩa khác về logistics.

Tuy nhiên, qua các khái niệm trên, có thể thấy logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi các hoạt động bao trùm mọi yếu tố tạo nên sản phẩm, đó là quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng.3 Phân loại logistics Thế kỷ 21, logistics đã phát triển mở rộng sang nhiều lĩnh vực và phạm vi khác nhau. Dưới đây là một số cách phân loại thường gặp: a. Theo phạm vi và mức độ quan trọng: Logistics kinh doanh (Bussiness logistics) là một phần của quá trình chuỗi cung ứng, nhằm hoạch định thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả và 10 Luan van hiệu lực các dòng vận động và dự trữ sản phẩm, dịch vụ và thông tin có liên quan từ các điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thoả mãn những yêu cầu của khách hàng Logistics quân đội (Military Logistics) là việc thiết kế và phối hợp các phương diện hỗ trợ và các thiết bị cho các chiến dịch và trận đánh của lực lượng quân đội. Đảm bảo sự sẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các hoạt động này.

Logistics sự kiện (Event logistics) là tập hợp các hoạt động, các phương tiện vật chất kỹ thuật và con người cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai các nguồn lực cho một sự kiện được diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp Dịch vụ logistics (Service logistics) bao gồm các hoạt động thu nhận, lập chương trình, và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất/ tài sản, con người, và vật liệu nhằm hỗ trợ và duy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh doanh. Theo vị trí của các bên tham gia Logistics bên thứ nhất (1PL-First Party Logistics): Người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tư vào phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động logistics. 1PL làm phình to quy mô của doanh nghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh doanh, vì doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quản lý và vận hành hoạt động logistics.

- Logistics bên thứ hai (2PL-Second Party Logistics): Người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán,.) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, hình thức này chưa tích hợp các hoạt động thành chuỗi logistics đồng nhất. Loại hình này bao gồm: các 11 Luan van hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, các công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải quan, trung gian thanh toán. - Logistics bên thứ ba (3PL-Third Party Logistics): Là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng, như thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất khẩu và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển hàng tới địa điểm quy định. Do đó 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin,.

và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. - Logistics bên thứ tư (4PL-Fourth Party Logistics): Là người tích hợp, hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics. 4PL chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, hướng đến quản trị cả quá trình logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng. - Logistics bên thứ năm (5PL-Fifth Party Logistics): phát triển gắn liền với thương mại điện tử.

Các nhà cung cấp dịch vụ 5PL đứng ra quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng trên nền tảng thương mại điện tử. Theo quá trình nghiệp vụ (logistical operations) chia thành 3 nhóm cơ bản Hoạt động mua ( Procurement) là các hoạt động liên quan đến đến việc tạo ra các sản phẩm và nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp bên ngoài. Mục tiêu chung của mua là hỗ trợ các nhà sản xuất hoặc thương mại thực hiện tốt các hoạt động mua hàng với chi phí thấp Hoạt động hỗ trợ sản xuất ( Manufacturing support) tập trung vào hoạt động quản trị dòng dư trữ một cách hiệu quả giữa các bước trong quá trình sản xuất. Hỗ trợ sản xuất không trả lời câu hỏi phải là sản xuất như thế nào mà là cái gì, khi nào và ở đâu sản phẩm sẽ được tạo ra 12 Luan van Hoạt động phân phối ra thị trường (Market distribution) liên quan đến viêc cung cấp các dịch vụ khách hàng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ