CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHOA HỌC VỀ DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về Dịch vụ công trực tuyến 1. Tổng quan về Chính phủ điện tử tại Việt Nam 1. Khái quát chung về CPĐT: * Khái niệm chung về Chính phủ điện tử: Nên ký hiệu từ viết tắt trước khi dung từ viết tắt Formatted: English (U.) - Định nghĩa của Ngân hàng thế giới World Bank: “CPĐT đề cập đến việc các cơ quan chính phủ sử dụng các CNTT (chẳng hạn như mạng diện rộng, mạng 6 Internet và mạng di động) mà có khả năng chuyển đổi mối quan hệ với công dân, doanh nghiệp và với các cơ quan chính phủ khác.
Những công nghệ này có thể phục vụ cho những mục đích khác nhau: cung cấp các dịch vụ tốt hơn, cải thiện sự tương tác với doanh nghiệp, tăng cường quyền lực cho công dân thông qua việc truy cập thông tin hoặc quản lý chính phủ hiệu quả hơn. Các lợi ích mang lại có thể giảm tham nhũng, nâng cao sự minh bạch, thuận tiện hơn, tăng doanh thu và/hoặc giảm chi phí”. - Định nghĩa của Liên Hợp quốc: “CPĐT được định nghĩa là việc sử dụng Internet và mạng toàn cầu (world-wide-web) để cung cấp thông tin và các dịch vụ của chính phủ tới công dân”. - Định nghĩa của tổ chức Đối thoại doanh nghiệp toàn cầu về thương mại điện tử: Formatted: Indent: First line: 0 cm “CPĐT đề cập đến một trạng thái trong đó các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp (bao gồm cả chính quyền trung ương và chính quyền địa phương) số hóa các hoạt động bên trong và bên ngoài của họ và sử dụng các hệ thống được nối mạng hiệu quả để có được chất lượng tốt hơn trong việc cung cấp các dịch vụ công”.
- Định nghĩa của Gartner: “CPĐT là “sự tối ưu hóa liên tục của việc cung cấp dịch vụ, sự tham gia bầu cử và quản lý bằng cách thay đổi các quan hệ bên trong và bên ngoài thông qua công nghệ, Internet và các phương tiện mới”. - Định nghĩa của Nhóm nghiên cứu về CPĐT trong một thế giới phát triển: “CPĐT là việc sử dụng CNTT và truyền thông để thúc đẩy chính phủ một cách hiệu lực và hiệu quả, hỗ trợ truy cập tới các dịch vụ của chính phủ, cho phép truy cập nhiều hơn vào thông tin và làm cho chính phủ có trách nhiệm với công dân. CPĐT có thể bao gồm việc cung cấp các dịch vụ qua Internet, điện thoại, các trung tâm cộng đồng, các thiết bị không dây hoặc các hệ thống liên lạc khác”. Nhằm thúc đẩy hiện thực hóa CPĐT hướng tới Chính phủ số, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, cần xây dựng một mô hình tham chiếu giúp các bộ, ngành, địa phương tham khảo trong quá trình xây dựng triển khai CPĐT nhằm hướng tới cung cấp các dịch vụ của cơ quan nhà nước như sau: + G2C (Governmnet to Citizens): Quan hệ Chính phủ với người dân 7 + G2B (Governmnent to Business): Quan hệ Chính phủ với doanh nghiệp + G2G (Government to Government): Quan hệ các cơ quan Chính phủ với nhau * Mục tiêu phát triển CPĐT: Mục tiêu phát triển CPĐT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước và chất lượng phục vụ người dân hướng tới Chính phủ số cần thực hiện các nhiệm vụ sau: Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc phát triển CPĐT, cơ chế quản lý đầu tư, kết nối, chia sẻ dữ liệu, xác thực và định danh điện tử; lưu trữ, quản lý và khai thác dữ liệu điện tử; thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; bảo vệ dữ liệu cá nhân, tổ chức (chữ ký số, chữ ký điện tử)… Thứ hai, xây dựng nền tảng công nghệ phát triển CPĐT: nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia; cổng DVC quốc gia; mở rộng kết nối Mạng truyền số liệu chuyên dùng; các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin quốc gia: dân cư, đăng ký doanh nghiệp; hải quan; bảo hiểm; đất đai; cán bộ công chức – viên chức… Thứ ba, gắn kết chặt chẽ ứng dụng CNTT với cải cách hành chính, đổi mới lề lối, phương thức làm việc phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Thứ tư, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, an ninh quốc gia, bảo vệ thông tin cá nhân. * Các mô hình tham chiếu được đưa ra để các bộ, ngành, địa phương có thể áp dụng cho phù hợp với đơn vị của mình: + Mô hình tham chiếu nghiệp vụ (BRM – Business Reference Model): thể hiện là khung chức năng của Chính phủ (bao gồm tất cả các chức năng quản lý của các ngành, lĩnh vực được phân cho các bộ, ngành, địa phương), khung này được xây dựng dựa trên các hoạt động nghiệp vụ, thể hiện độc lập với chức năng, nhiệm vụ được phân chia cho các bộ, ngành. + Mô hình tham chiếu dữ liệu (DRM – Data Reference Model): cung cấp khung chia sẻ và sử dụng lại thông tin giữa các bộ, ngành, địa phương. Các thông 8 tin nhóm dựa trên các nhóm dữ liệu tương ứng, không phụ thuộc bộ, ngành, địa phương nào tạo ra.
+ Mô hình tham chiếu ứng dụng (ARM – Application Reference Model): cung cấp khung chức năng theo hướng nghiệp vụ để phân loại các ứng dụng trên cơ sở các ứng dụng được sử dụng để hỗ trợ các mục tiêu hoạt động. Dựa vào mô hình này có thể chỉ ra các khả năng hợp nhất các ứng dụng có cung cấp các dịch vụ tương đồng. + Mô hình tham chiếu kỹ thuật, công nghệ (TRM – Techincal Reference Model): cung cấp khung kỹ thuật phân loại các tiêu chuẩn và công nghệ để hỗ trợ việc cung cấp các dịch vụ và khả năng của công nghệ. Mô hình này cung cấp hướng dẫn làm thế nào TRM của mỗi bộ, ngành, địa phương có thể hợp nhất với TRM của quốc gia bằng cách cung cấp một nền tảng để thúc đẩy khả năng tái sử dụng và tiêu chuẩn hóa các công nghệ và thành phần dịch vụ công nghệ trên phạm vi toàn quốc.
+ Mô hình tham chiếu an toàn thông tin (SRM – Sercurity Reference Model): chỉ ra mục đích bảo đảm an toàn, xác định toàn bộ các rủi ro và cơ chế kiểm soát rủi ro ở mỗi cấp độ của các tổ chức để xác định và phân loại giám sát phù hợp để bảo đảm môi trường an toàn. Tình hình triển khai CPĐT tại Việt Nam: Từ những năm 2000, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, coi trọng phát triển ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước, xác định đây là động lực góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới tạo khả năng đi tắt, đón đầu để thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Năm 2014, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế với quan điểm “Ứng dụng, phát triển CNTT trong tất cả các lĩnh vực, song có trọng tâm, trọng điểm. Ưu tiên ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính, cung cấp DVC, trước hết là trong lĩnh vực liên quan tới doanh nghiệp, người dân như giáo dục, y tế, giao thông, nông nghiệp…”.
Nghị quyết đã xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2020 “triển khai có hiệu quả chương 9 trình cải cách hành chính, gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng CPĐT và cung cấp DVCTT ở mức độ cao và trong nhiều lĩnh vực”. Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, năm 2015, Chính phủ đã có Nghị quyết đầu tiên tập trung về CPĐT nhằm “Đẩy mạnh phát triển CPĐT, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan Nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn. Nâng vị trí của Việt Nam về Chính phủ điện tử theo xếp hạng của Liên Hợp Quốc. Công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan Nhà nước trên môi trường mạng”.
Ngày 28/8/2018, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1072/QĐ-TTg thành lập Ủy ban Quốc gia về CPĐT trên cơ sở kiện toàn Ủy ban Quốc gia về ứng dụng CNTT do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch Ủy ban, Thủ tướng đã chỉ đạo tiếp tục xây dựng phát triển CPĐT hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số; tạo thuận lợi cho việc triển khai cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tại Việt Nam. Ngày 07/3/2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển CPĐT giai đoạn 2019 – 2020, định hướng đến 2025 với nhiệm vụ xây dựng nền tảng công nghệ phát triển CPĐT phù hợp với xu thế phát triển CPĐT trên thế giới. Khái quát về Dịch vụ hành chính công * Khái niệm về Dịch vụ công: DVC là những hoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân vì lợi ích chung của xã hội, do nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư thực hiện) nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội. Dịch vụ công có các đặc trưng: Thứ nhất, đó là các hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho lợi ích chung, thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân.
Thứ hai, do nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp cung cấp hoặc ủy nhiệm việc cung cấp). Ngay cả khi nhà nước chuyển giao dịch vụ này cho tư nhân cung cấp thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm bảo đảm sự công 10 bằng trong phân phối các dịch vụ này và khắc phục các khiếm khuyết của thị trường. Thứ ba, là các hoạt động có tính chất phục vụ trực tiếp, đáp ứng các nhu cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân. Thứ tư, bảo đảm tính công bằng và tính hiệu quả trong cung cấp dịch vụ.
* Khái niệm về Dịch vụ hành chính công: Theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và DVCTT trên Cổng thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước thì: Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý. Mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một thủ tục hành chính để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân.