CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại và dịch vụ cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 1. Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Tại Việt Nam, ngân hàng được thành lậ vào ngày 05/05/1951 theo Sắc lệnh số 15/SL của Chủ tịch nước. Trong giai đoạn 1951 - 1987, hệ thống Ngân hàng hoạt động theo mô hình một cấ nhằm hù hợ với cơ chế quản lý kế hoạch hoá tậ trung.
Ngày 26/3/1988 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính hủ Nước CHXHCN Việt Nam) ban hành Nghị định số 53-HĐBT về bộ máy NHNN Việt Nam quy định hệ thống Ngân hàng hoạt động theo mô hình hai cấ là Ngân hàng nhà nước (NHNN) và các Ngân hàng chuyên doanh trực thuộc [7]. Theo Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 của Chính hủ, Ngân hàng thương mại (NHTM) là “Ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) và quy định khác của pháp luật”[1]. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã định nghĩa về NHTM thông qua định nghĩa “ngân hàng” và “hoạt động ngân hàng”. Theo đó, tại khoản 2 Điều 4 quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”. Khoản 12 Điều 4 quy định: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Khái niệm NHTM đã được định nghĩa tại khoản 3 Điều 4 như sau: “NHTM là loại hình ngân 6 hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [9]. Theo giáo trình nghiệ vụ ngân hàng thương mại của Phan Thị C c (2008): “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [2].
Khái niệm về NHTM theo quan điểm của há luật hay của các nhà kinh tế ở các quốc gia khác nhau không hoàn toàn giống nhau mặc dù có những điểm tương đồng. Tuy nhiên, dù các định nghĩa về NHTM ở mỗi quốc gia có khác nhau, nhưng nhìn chung lại, ch ng ta thấy rằng bản chất NHTM được hiểu là: NHTM là một doanh nghiệ đặc biệt kinh doanh tiền tệ với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấ tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán, thực hiện các nghiệ vụ kinh doanh khác nhau vì mục tiêu lợi nhuận và sự hát triển chung của toàn bộ nền kinh tế. Đặc điểm của ngân hàng thương mại Theo Phan Thị Thu Hà (2013), NHTM là một loại hình doanh nghiệ đặc biệt, do đó có những đặc thù riêng có khác với các doanh nghiệ khác [4]. Cụ thể NHTM có những đặc điểm sau: - NHTM là doanh nghiệ (DN) đặc thù hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ - tín dụng vì mục tiêu lợi nhuận.
Các hoạt động của NHTM nhằm th c đẩy và lưu chuyển các dòng tiền tệ hục vụ cho việc giao dịch, thanh toán hát sinh hàng ngày trong nền kinh tế. Đồng thời, thông qua các hoạt động huy động vốn và cho vay các NHTM có khả năng tạo tiền từ các nghiệ vụ kinh doanh của mình thông qua các công cụ lãi suất, tỷ giá. Vì vậy, NHTM là một mắt xích gó hần ổn định chính sách tiền tệ quốc gia, đặc biệt là đối với các quốc gia đang chuyển đổi nền kinh tế để tham gia hội nhậ kinh tế khu vực và quốc tế như Việt Nam. - Cấu tr c tài sản, cơ cấu vốn kinh doanh và nguồn sinh lợi nhuận của NHTM có tính đặc thù riêng.
Do NHTM kinh doanh tiền và các giấy tờ có giá khác 7 nên cấu tr c tài sản khác biệt so với cấu tr c tài sản của các doanh nghiệ hi tài chính khác đó là tài sản chủ yếu là tài sản tài chính. Cơ cấu vốn kinh doanh gồm hần lớn là vốn huy động từ bên ngoài và chỉ một hần nhỏ là vốn tự có của ngân hàng. Nguồn gốc sinh lời cũng khác so với các DN hi tài chính: NHTM chủ yếu kiếm lợi nhuận từ hoạt động cho vay và đầu tư, trong khi đó các DN hi tài chính kiếm lợi nhuận chủ yếu từ việc bán hàng hóa. - Sản hẩm và dịch vụ mà ngân hàng kinh doanh là hàng hóa tài chính, nói cách khác, đó là tiền và các chứng từ có giá như là: Cổ hiếu, thương hiếu, hối hiếu, trái hiếu và tín hiếu.
Đây là những sản hẩm cao cấ của nền kinh tế thị trường, vì vậy được vận hành theo một quy trình và hải được điều hành bởi nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nhất định, dựa trên những cơ sở há lý do luật há quy định. - Hoạt động kinh doanh của NHTM được hân vào nhóm hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao và đối mặt với nhiều rủi ro nhất. Các loại rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau và đều có thể gây tổn thất lớn cho hệ thống NHTM. Do đó, mà NHTM chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau.
Trong bối cảnh đó, không một ngân hàng nào có thể tồn tại và hát triển lâu dài mà không xây dựng cho mình hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả. Đồng thời, hoạt động kinh doanh của một ngân hàng đòi hỏi hải có sự hợ tác chặt chẽ với các ngân hàng khác nhằm chia sẻ rủi ro kinh doanh và cung cấ dịch vụ cho khách hàng, tránh tình trạng như: sự sụ đổ của một ngân hàng làm lung lay toàn bộ hệ thống ngân hàng. - Trong quá trình hoạt động, NHTM tạo ra sản hẩm và dịch vụ trực tiế cung ứng cho người tiêu dùng khi có nhu cầu. Vì vậy, sự tồn tại của NHTM hụ thuộc nhiều vào thương hiệu và sự tin tưởng của khách hàng.
Cho nên hoạt động của NHTM rất nhạy cảm với thông tin, khách hàng dễ mất niềm tin khi tiế nhận bất kỳ thông tin nào bất lợi cho khách hàng. Điều đó có thể đẩy ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, thậm chí là há sản. Do vậy, các NHTM không ngừng nâng cao chất lượng sản hẩm dịch vụ cung ứng, đảm bảo uy tín và quảng bá hình ảnh của mình tới khách hàng. 8 - Hoạt động của NHTM chịu sự chi hối mạnh của yếu tố công nghệ.
Bên cạnh yếu tố con người, công nghệ chính là chìa khoá quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày nay. Ứng dụng công nghệ cho hé ngân hàng kiểm soát tốt hơn hoạt động kinh doanh của mình, r t ngắn thời gian cung cấ dịch vụ và tạo thêm nhiều tiện ích cho khách hàng. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa, cung cấ vốn cho nền kinh tế. Theo Nguyễn Đăng Dờn, Lý Hoàng Ánh (2014), với sự hát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và hong h hơn, song NHTM vẫn duy trì các nghiệ vụ cơ bản sau [3]: Hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn (HĐV) đây là nghiệ vụ cơ bản và quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng.
Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như huy động dưới hình thức tiền gửi, đi vay, hát hành giấy tờ có giá… Mặt khác, trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng còn tiến hành cho vay hục vụ cho nhu cầu hát triển sản xuất, cho các mục tiêu hát triển kinh tế của địa hương và cả nước. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng, tạo uy tín của ngân hàng ngày càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành hần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Hoạt động sử dụng vốn Đây là nghiệ vụ trực tiế mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nghiệ vụ sử dụng vốn của ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng, quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Do vậy, ngân hàng cần hải nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình sao cho hợ lý nhất.
Hoạt đọng (Nghiệ vụ) sử dụng vốn gồm có: - Hoạt động cấp tín dụng: Cấ tín dụng bao gồm các hình thức như Cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; Bảo lãnh ngân hàng; Cho thuê tài chính; Bao thanh toán trong nước, bao thanh toán 9 quốc tế đối với các ngân hàng được hé thực hiện thanh toán quốc tế; Các hình thức cấ tín dụng khác sau khi được NHNN chấ thuận. Trong đó, cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM, nhìn chung thì khoảng 60% - 75% thu nhậ của ngân hàng là từ các hoạt động cho vay. Thành công hay thất bại của một ngân hàng tùy thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất hát từ chính sách cho vay của ngân hàng. Các loại cho vay có thể hân loại bằng nhiều cách, bao gồm: mục đích, hình thức bảo đảm, kỳ hạn, nguồn gốc và hương há hoàn trả.
- Hoạt động đầu tư: Bên cạnh cấ tín dụng, ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu tư nhằm đa dạng các nghiệ vụ để cung cấ đầy đủ kị thời nguồn vốn cho nền kinh tế. Có 2 hình thức đầu tư chủ yếu là: Đầu tư vào mua bán kinh doanh chứng khoán hoặc đầu tư gó vốn vào các doanh nghiệ , các công ty khác và đầu tư vào trang thiết bị tài sản cố định hục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.