Chương 1: Cơ sở luận về phát triển dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại. - Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quảng Ninh - Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quảng Ninh 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Tổng quan về DVBL của Ngân hàng 1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng Hiện nay, khái niệm bảo lãnh ngân hàng chưa được sử dụng một cách thống nhất.
Theo luật Mỹ, bảo lãnh là thỏa thuận trong đó người bão lãnh (ngân hàng) đồng ý sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên nợ khi bên nợ không trả nợ; bảo lãnh là việc bên hứa thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ. Theo luật Trung quốc, bảo lãnh được hiểu là hành vi mà căn cứ vào thỏa thuận bảo lãnh, người bảo lãnh (ngân hàng) sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc chịu trách nhiệm trước con nợ nếu con nợ không trả được nợ. Tại Việt Nam, phần lớn các khái niệm đều đề cập tới hai vấn đề cơ bản là hành vi và giao dịch giữa các bên có liên quan. Theo Khoản 18, Điều 4, Luật các TCTD số 47/2010/QH12: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận”.
Hay theo khoản 1, Điều 3, Thông tư số 07/2015/TT-NHNN của NHNN: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh”. Như vậy, dưới góc độ kinh tế học, bảo lãnh ngân hàng thường được quan niệm là một nghiệp vụ cấp tín dụng; dưới góc độ pháp lý, bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản, là một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự. Hình thức của bảo lãnh ngân hàng bao gồm hợp đồng bảo lãnh, thư bảo lãnh và hình thức cam kết khác do các bên tự thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật Việt Nam. 7 Thư bảo lãnh là văn bản cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh còn Hợp đồng bảo lãnh là văn bản thỏa thuận giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh hoặc giữa bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và các bên có liên quan (nếu có).
Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng 1. Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ đa phương Tham gia vào hoạt động bảo lãnh có ít nhất 3 chủ thể, đó là: Bên phát hành bảo lãnh (ngân hàng), bên được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh (bên thụ thưởng). “Bên bảo lãnh là các Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh. Bên được bảo lãnh là tổ chức (bao gồm tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài), cá nhân là người cư trú và tổ chức là người không cư trú được Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài bảo lãnh.
Bên nhận bảo lãnh là tổ chức, cá nhân là người cư trú hoặc người không cư trú có quyền thụ hưởng bảo lãnh do Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành. Các chủ thể tham gia có mối quan hệ với nhau thông qua các hợp đồng là: Hợp đồng kinh tế, Hợp đồng bảo lãnh, Thư bảo lãnh. Cụ thể như sau: (1) Bên được bảo lãnh Bên nhận bảo lãnh (2) (3) Bên bảo lãnh (NHTM) (1) Hợp đồng kinh tế: Trước hết hoạt động bảo lãnh được phát sinh từ mối quan hệ kinh tế giữa Bên nhận bảo lãnh và Bên được bảo lãnh. Hai chủ thể này thỏa thuận, kí kết hợp đồng kinh tế.
Trong đó, bên nhận bảo lãnh yêu cầu phải có bảo lãnh của ngân hàng bảo lãnh và chỉ khi bên được bảo lãnh đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng thì bảo lãnh mới được xác lập. Từ đó phát sinh ra các mối quan hệ tiếp theo 8 (2) Hợp đồng cấp bảo lãnh: Quan hệ giữa ngân hàng và bên được bảo lãnh thông qua hợp đồng cấp bảo lãnh hay là mối quan hệ giữa ngân hàng cấp tín dụng và bên hưởng tín dụng (3) Cam kết bảo lãnh (Thư bảo lãnh): Thư bảo lãnh do ngân hàng phát hành trao cho bên nhận bảo lãnh trong đó quy định những điều kiện để bên nhận bảo lãnh có thể nhận được thanh toán của ngân hàng trong trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ đã cam kết Ngoài ra, nếu là bảo lãnh đối ứng sẽ hình thành thêm mối quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh đối ứng - ngân hàng phát hành, đồng bảo lãnh sẽ tạo ràng buộc trách nhiệm giữa các ngân hàng đồng phát hành, xác nhận bảo lãnh ngoài mối quan hệ giữa ngân hàng xác nhận - ngân hàng bảo lãnh thì giữa bên xác nhận bảo lãnh và bên thụ hưởng có thêm mối quan hệ đảm bảo khác, làm đa dạng các mối quan hệ. Bảo lãnh ngân hàng mang tính chất độc lập tương đối với hợp đồng cơ sở Trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng, hợp đồng cơ sở là tiền đề tạo ra cam kết bảo lãnh. Song bảo lãnh ngân hàng có tính độc lập tương đối so với hợp đồng cơ sở.
Điều này thể hiện rõ nhất qua hình thức bảo lãnh vô điều kiện, không hủy ngang: chỉ cần bên thụ hưởng bảo lãnh xuất trình đề nghị thanh toán tới ngân hàng, ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho dù nếu theo điều khoản của hợp đồng cơ sở bên được bảo lãnh chưa có sự vi phạm. Nhìn chung, ngân hàng thanh toán bảo lãnh chỉ hoàn toàn căn cứ vào điều khoản, điều kiện được quy định trong bảo lãnh, không cần nghiên cứu lại điều khoản của hợp đồng cơ sở. Bảo lãnh ngân hàng là hoạt động ngoại bảng | “Về bản chất, bảo lãnh là hình thức tài trợ bằng uy tín, qua đó bên được bảo lãnh có thể thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh để thu lợi. Khi thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh, ngân hàng chưa phải xuất quỹ tiền mặt ngay do đó bảo lãnh được coi như một hoạt động ngoại bảng vì hoạt động của nó không làm ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán.
Tuy nhiên, khi rủi ro xảy ra thì ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận bảo lãnh. Đó cũng chính là lúc ngân hàng phải thực sự xuất quỹ tiền 9 mặt, điều này làm ảnh hưởng tới bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Khi đó, hoạt động bảo lãnh đã được chuyển từ tài sản ngoại bảng vào tài sản nội bảng. Như vậy, nếu hoạt động bảo lãnh có chất lượng kém không những có ảnh hưởng xấu tới uy tín của ngân hàng mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới tài sản của ngân hàng.
Bảo lãnh tiến hành trên cơ sở chứng từ “Tất cả các hoạt động của ngân hàng đều dựa trên cơ sở chứng từ và hoạt động bảo lãnh cũng không phải là ngoại lệ. Cam kết bảo lãnh của ngân hàng cũng là một văn bản mà việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng dựa trên văn bản đó. Do đó, khi người thụ hưởng bảo lãnh đến yêu cầu ngân hàng thanh toán thì ngân hàng phát hành thư bảo lãnh phải có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình phù hợp với những điều khoản và điều kiện của thư bảo lãnh. Ngân hàng phát hành có quyền từ chối thanh toán nếu chứng từ bất hợp lệ hay những điều kiện và điều khoản bảo lãnh không được đáp ứng.
Nếu ngân hàng không thực hiện đúng trách nhiệm kiểm tra, tức là vẫn thanh toán bộ chứng từ bất hợp lệ thì ngân hàng đó sẽ không nhận được tiền bồi hoàn từ người được bảo lãnh. Tuy nhiên nếu bộ chứng từ được đưa đến hoàn toàn phù hợp với những điều kiện, điều khoản quy định trong thư bảo lãnh và ngân hàng kiểm tra thấy hợp lệ thì ngân hàng phải lập tức thanh toán cho bên thụ hưởng. Phân loại bảo lãnh ngân hàng 1. Phân loại theo phương thức phát hành bảo lãnh a.
Bảo lãnh trực tiếp “ Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh được thực hiện dựa trên mối quan hệ 3 bên trong quan hệ bảo lãnh, trong đó, ngân hàng phát hành bảo lãnh chịu trách nhiệm trực tiếp cho bên được bảo lãnh mà không thông qua bất kỳ trung gian nào. Trường hợp phát sinh trả thay thì bên được bảo lãnh sẽ nhận nợ với ngân hàng phát hành. “Trong trường hợp bên thụ hưởng bảo lãnh là người nước ngoài thì ngân hàng của người được bảo lãnh sẽ thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người thụ hưởng để chuyển thư bảo lãnh cho người thụ hưởng.2) NH phát hành (Issuing bank) NH thông báo (Advising Bank) (2) (3.2) Bên được BL (Account Party) (1) Bên thụ hưởng (Beneficiary) Sơ đồ 1.1: Quy trình bảo lãnh trực tiếp (Nguồn: Tác giả tổng hợp) (1) Ký kết hợp đồng cơ sở (2) Nộp hồ sơ xin phát hành bảo lãnh (3.1) Thông báo trực tiếp tới bên thụ hưởng (3.2) Thông báo gián tiếp tới bên thụ hưởng bởi ngân hàng thông báo b. Bảo lãnh gián tiếp Bảo lãnh gián tiếp chỉ tồn tại khi có sự tham gia của tối thiểu 4 bên, trong đó: Bên được bảo lãnh sẽ yêu cầu ngân hàng thứ nhất (gọi là ngân hàng chỉ thị) đề nghị ngân hàng thứ hai (ngân hàng phát hành) phát hành bảo lãnh cho bên thụ hưởng căn cứ vào bảo lãnh đối ứng.
Bảo lãnh đối ứng hình thành do ngân hàng thứ nhất (bên bảo lãnh đối ứng) cam kết với ngân hàng thứ hai sẽ trực tiếp bồi hoàn cho ngân hàng thứ hai nếu ngân hàng thứ hai thực hiện thay nghĩa vụ tài chính cho bên được bảo lãnh. Sau đó, ngân hàng thứ nhất có quyền truy đòi từ bên được bảo lãnh. “Bảo lãnh đối ứng có nội dung và điều khoản quy định như trong bảo lãnh chính.2) NH thứ hai (Issuing Bank) NH thông báo (Advising Bank) (3) NH thứ nhất (Instructing Bank) (4.