CHƯƠNG 1 NHŨNG VÂN ĐỂ CÓ TÍNH LÝ LUẬN CHƯNG VỂ CHO VAY VÀ KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề có tính lý luận chung vê hoạt động cho vay tại NHTM 1. Tổng quan về hoạt động của NHTM 1. Những vấn đề cơ bản về NHTM a- Khái niệm Theo pháp lệnh về ngân hàng, thương mại, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính của Việt Nam ban hành ngày 24/05/1990 thì: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng sô tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán“.
Như vậy, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác. Thông qua các nghiệp vụ NHTM đã chứng tỏ được sự cần thiết của hệ thống ngân hàng trong phát triển nền kinh tế thị trường, ngân hàng là đòn bẩy kinh tế. b- Chức năng - Trung gian tín dụng: Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. 4 - Trung gian thanh toán: ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng.
Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
- Chức năng tạo tiên: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu câu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ.
Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. 5 c- Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM: Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 16/6/2010 thì hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một số các nghiệp vụ sau đây: - Nhận tiền gửi: là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. - Cấp tín dụng: là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. - Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
Hoạt động tín dụng của NHTM. a) Đặc trưng của tín dụng ngân hàng. Thứ nhất: Quan hệ tín dụng xuất phát từ sự tin tưởng giữa người cho vay và người đi vay. Để hình thành được một khoản cho vay thì người cho vay khi phát tiền ra phải đảm bảo được chắc chắn rằng khoản tiền đó được sử dụng đúng mục đích, được hoàn trả đúng thời gian và số tiền như đã thỏa thuận.
Đồng thời người cho vay cũng phải có niềm tin rằng khoản tiền vay của họ phải được đáp ứng đầy đủ và kịp thời. 6 Thứ hai: Tín dụng có hoàn trả và mang tính bắt buộc. Điều này có nghĩa là ngân hàng chỉ trao cho khách hàng quyền sử dụng chứ không phải quyền sở hữu một số tiền nhất định. Sau một khoảng thời gian thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả lại toàn bộ phần vốn đã vay của ngân hàng nếu không có sự thỏa thuận nào khác.
Việc hoàn trả này có giá trị pháp lý tuân theo các hợp đồng kinh tế đã kí kết giữa hai bên và được pháp luật đảm bảo thi hành. Thứ ba: Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay. Tức là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Đó chính là khoản tiền mà người vay phải bỏ ra và ngân hàng được hưởng khi nhường quyền sử dụng vốn.
Số lãi này được tính toán sao cho bù đắp được chi phí bỏ ra cộng thêm một phần lợi nhuận cho ngân hàng. Thứ tư: Hoạt động tín dụng được gắn liền với hệ thống lưu thông tiền tệ của một quốc gia. Thông qua hoạt động huy động vốn, có một dòng tiền vào từ những người dư thừa đến ngân hàng và số tiền đó lại được cho vay tạo dòng tiền ra. Quá trình này làm cho tiền tệ luôn được lưu thông trong nền kinh tế.
Thứ năm: Hoạt động túi dụng đa dạng, phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đó là sự đa dạng về đối tượng khách hàng ( doanh nghiệp hay cá nhân, người Việt Nam hay người nước ngoài.), về địa điểm ( ở rất nhiều các vùng miền khác nhau trên cả nước), về thời hạn cho vay( ngắn, trung , dài hạn), về các sản phẩm cũng như cách thức cho vay. nhất là trong điều kiện khoa học kĩ thuật phát triển, cạnh tranh ngày càng gay gắt thì sẽ có thêm rất nhiều sản phẩm, hình thức cho vay mới ra đời. Cũng chính vì sự đa dạng đó đã dẫn đến rất nhiều những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động cho vay như: rủi ro thanh khoản, rủi ro mất vốn, rủi ro đạo đức.Những rủi ro này xuất phát từ chính bản thân ngân hàng, sự biến động 7 kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội và do khách hàng vay vốn mang lại.
Bởi vậy, ngân hàng cần có những biện pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra. b) Vai trò của tín dụng ngân hàng. Quan hệ tín dụng xuất hiện đầu tiên từ việc mua bán chịu hàng hóa, trực tiếp giữa người cần vốn và người thiếu vốn. Khi hệ thống các NHTM ra đời đã làm cho hoạt động này trở nên đơn giản, tiết kiệm và mở rộng hơn rất nhiều.
Nó đóng một vai trò rất quan trọng với chính ngân hàng, khách hàng và toàn bộ nền kinh tế quốc dân: + Đối với ngân hàng Tín dụng là một hoạt động cơ bản, cốt lõi của bất kì NHTM nào, nó chiếm khoảng 70% hoạt động và mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Nếu chỉ dừng lại ở việc huy động vốn thì ngân hàng sẽ phải bỏ ra chi phí, không cho vay thì không có nguồn thu để trang trải cho các chi phí đầu vào ( lãi suất huy động vốn và các chi phí liên quan khác). Bởi vậy, cho vay là hoạt động tạo ra lợi nhuận( chênh lệch giữa chi phí đầu vào và doanh thu đầu ra) cho ngân hàng, làm cho tiền hoạt động và có hiệu quả. Tín dụng còn nâng cao vai trò và uy tín của ngân hàng, đảm bảo cho ngân hàng đứng vững trong cạnh tranh.
Vì hoạt động tín dụng chiếm một tỷ trọng lớn trong danh mục hoạt động bên tài sản có của ngân hàng. Với một chính sách cho vay hợp lý, ưu việt sẽ khiến cho khách hàng biết đến ngân hàng nhiều hơn, gia tăng giá trị sử dụng các sản phẩm dịch vụ, giúp chiến thắng trong cạnh tranh. + Đôi với khách hàng vay Trước sự phát triển không ngừng của khoa học kĩ thuật, năng suất lao động được nâng cao giúp sản xuất ngày càng được mở rộng. Để làm được điều này thì cần một lượng vốn đủ lớn và được đáp ứng kịp thời.
Tuy nhiên, việc 8 luân chuyển vốn trực tiếp giữa người thừa vốn và thiếu vốn là rất khó khăn do có sự cách biết về thời gian và địa lý. Bởi vậy mà sự ra đời của tín dụng ngân hàng đã giải quyết tốt những mâu thuẫn này, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Thêm vào đó, tín dụng ngân hàng đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm được một cách đáng kể thời gian, chi phí tìm kiếm thông tin, chi phí giao dịch, chi phí cơ hội. Thay bằng việc các doanh nghiệp phải tìm kiếm những nguồn tiền nhàn rỗi( mà việc này là rất khó khăn bởi sự không trùng khớp về số lượng, thời gian, địa điểm .) thì họ chỉ cần đến ngân hàng, đưa ra nhu cầu hợp lý để được đáp ứng ngay lập tức.