Chương 1 “Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản”, với 11 nội dung đánh giá tổng quan về thực trạng và vấn đề phát triển CNHT hiện nay ở Việt Nam; Chương 2 “Công nghiệp hỗ trợ: Tổng quan về khái niệm và sự phát triển”, đã tổng kết lịch sử ra đời và năm khái niệm liên quan đến CNHT và đề xuất khái niệm cho Việt Nam. Đặc biệt trong Chương IV: “Thiết kế và quản lý cơ sở dữ liệu về công nghiệp hỗ trợ”, tác giả Junichi Mori đã đề xuất việc xây dựng cơ sở dữ liệu về CNHT, tác giả đã đưa ra những nguyên nhân đòi hỏi cần phải xây dựng cơ sở dữ liệu trong quá trình phát triển CNHT và chỉ ra những yêu cầu, đặc điểm của cơ sở dữ liệu. Thông qua đó, tác giả chứng minh việc xây dựng cơ sở dữ liệu là yêu cầu cấp bách, là “dầu bôi trơn” cần thiết trong chiến lược phát triển CNHT do FDI dẫn dắt và mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp trong nước. Tác giả đã phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến phát triển các ngành CNHT trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các công ty xuyên quốc gia.
Theo tác giả, chính các công ty xuyên quốc gia sẽ là “diễn viên” chính trong “vở kịch”: “Chuyên môn hóa sản xuất quốc tế”, còn CNHT chỉ là “diễn viên quần chúng” nhưng không thể thiếu được trong nền kinh tế toàn cầu. Thông qua bài viết, tác giả muốn khẳng định vai trò không ngừng tăng lên của ngành CNHT Việt Nam trong quá trình phân công lao động, chuyên môn hóa sản xuất trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. [47] - Trương Đình Tuyển - nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, (2011), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ. Kiến nghị cách tiếp cận và chính sách cho Việt Nam”.
15 Bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Chính sách tài chính phát triển công nghiệp hỗ trợ” do Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài chính) và Viện Nghiên cứu Chiến lược chính sách công nghiệp (Bộ Công thương) tổ chức. Bài viết đã phân tích và làm rõ khái niệm CNHT và vị trí của CNHT trong chuỗi giá trị, từ đó chỉ ra việc lựa chọn sản phẩm CNHT cho Việt Nam. Đặc biệt, trong giải pháp tổ chức sản xuất các sản phẩm CNHT và những ưu đãi cho CNHT, tác giả đưa ra mô hình tổ chức sản phẩm CNHT theo sơ đồ hình thang với bốn giai đoạn, thông qua đó chỉ ra Việt Nam mới ở giai đoạn III và IV, sản xuất phần lớn những sản phẩm chi tiết có độ phức tạp không cao. Do đó, Việt Nam cần tạo mọi điều kiện cho CNHT phát triển lên đỉnh hình thang thông qua việc làm trước mắt là xây dựng và ban hành Nghị định, Luật về CNHT cũng như chương trình hành động quốc gia về CNHT và lập Cục Công nghiệp hỗ trợ thuộc Bộ Công thương để quản lý và phát triển CNHT.
Nhóm công trình khoa học nghiên cứu về phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ - Viện Kinh tế Việt Nam, (2007), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ: nghiên cứu trường hợp công nghiệp hỗ trợ cho ngành sản xuất ô tô, xe máy”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp viện do TS. Nguyễn Trọng Xuân chủ nhiệm. Nhóm tác giả đã đánh giá khái quát CNHT Việt Nam, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển, đặc biệt là đi sâu phân tích thực trạng CNHT trong hai ngành ô tô và xe máy thông qua việc nghiên cứu nhu cầu về sản phẩm hỗ trợ và thực trạng cung cấp sản phẩm hỗ trợ trong hai ngành này. Trên cơ sở đó đưa ra một loạt các giải pháp phát triển cho hai ngành ô tô và xe máy, đặc biệt là quan tâm, xây dựng một hệ thống CNHT đảm bảo phục vụ ngành công nghiệp ô tô, xe máy nói riêng, cũng như toàn ngành kinh tế nói chung.[112] - Đại học Ngoại thương, (2008), “Nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu và khả năng tham gia của các doanh nghiệp ngành điện tử Việt Nam”.
Đề tài khoa học cấp Bộ, TS. Nguyễn Hoàng Ánh chủ nhiệm. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, trong 16 chiến lược phát triển các ngành công nghiệp, Việt Nam nên lựa chọn, định hướng phát triển ngành công nghiệp điện tử trở thành ngành mũi nhọn, mang tính đột phá chiến lược vì có nhiều ưu thế và lợi thế cạnh tranh. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay và sắp tới, trong chuỗi giá trị toàn cầu Việt Nam nên tập trung vào công đoạn sản xuất, là khâu có thể tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của các tập đoàn điện tử quốc tế, chứ chưa nên tham gia vào khâu thiết kế, phân phối của chuỗi giá trị.
Trong quá trình đó, ở công đoạn sản xuất Việt Nam cần quan tâm, đầu tư nhiều hơn nữa hệ thống các sản phẩm hỗ trợ cho phát triển ngành công nghiệp điện tử.[5] - Nguyễn Ngọc Sơn, (2008), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam”, Tạp chí Công nghiệp số 359. Bài viết đưa ra các quan điểm về CNHT và CNHT ngành dệt may trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Trên cơ sở đó phân tích thực trạng ngành dệt may Việt Nam ở các tiêu chí như: lĩnh vực sản xuất xơ sợi tổng hợp, công nghiệp cơ khí ngành dệt may, công nghiệp hóa chất phục vụ ngành dệt may, tình hình sản xuất phụ liệu ngành dệt may. Trên cơ sở đó, tác giả đã đánh giá chung những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và chỉ ra nguyên nhân yếu kém của ngành dệt may và đưa ra giải pháp thúc đẩy CNHT ngành dệt may phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.[64] - Trương Thị Chí Bình, (2010), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành điện tử gia dụng ở Việt Nam”; Luận án tiến sĩ kinh tế, Khoa Quản trị kinh doanh, Viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Kinh tế quốc dân.
Tác giả đã phân tích các luận cứ lý thuyết và thực tiễn về cách thức phát triển CNHT ngành điện tử gia dụng. Làm rõ bản chất, thành phần, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT, từ đó khẳng định quan điểm “hợp lý” về phát triển CNHT cho Việt Nam là dựa trên mạng lưới của “lý thuyết trò chơi”, với vai trò tích cực của các TĐĐQG và các nhà cung ứng quốc tế. Tác giả còn phân tích quy trình sản xuất các sản phẩm điện tử gia dụng, xác định phạm vi của CNHT ngành điện tử gia dụng bao gồm quá trình sản xuất 3 nhóm sản phẩm chính: linh kiện điện và điện tử, linh kiện kim loại, linh kiện nhựa và cao su. Nghiên cứu lý do CNHT 17 ngành điện tử gia dụng ở Việt Nam chưa phát triển và khẳng định, CNHT ngành điện tử gia dụng có thể phát triển, khi Việt Nam tham gia được vào các lớp cung ứng trong mạng lưới sản xuất của các TĐĐQG.
Trên cơ sở các luận cứ này, Luận án kiến nghị một số giải pháp chính để phát triển CNHT ngành điện tử gia dụng: Xây dựng định hướng phát triển CNHT ngành ĐTGD Việt Nam với việc tập trung cung ứng các linh kiện kim loại và nhựa cho các lớp cung ứng trong mạng lưới sản xuất của các TĐĐQG, từ đó đề xuất chương trình phát triển CNHT ngành điện tử gia dụng; kiến nghị điều chỉnh Quy hoạch phát triển CNHT Việt Nam: xác định CNHT theo các ngành cung ứng; thu hẹp khái niệm CNHT; lựa chọn lĩnh vực ưu tiên và xây dựng chương trình hành động; xây dựng mô hình phát triển CNHT ngành ĐTGD theo 03 mức: Khu CNHT, Cụm liên kết ngành và Vườn ươm doanh nghiệp CNHT.[7] - Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp - Bộ Công thương, (2011), “Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may Việt Nam”, đề tài khoa học cấp Bộ. Đề tài đã đánh giá tổng quan thực trạng phát triển CNHT của ngành dệt may. Đề tài được chia làm ba phần nghiên cứu, trong Phần I, nhóm tác giả đi sâu phân tích năng lực của các doanh nghiệp CNHT trong ngành dệt may Việt Nam trên các mặt như: năng lực tài chính, năng lực công nghệ, năng lực thị trường và nguồn nhân lực. Từ đó, đánh giá những tiềm năng, lợi thế trong phát triển ngành dệt may Việt Nam.
Trong Phần II, các tác giả đã tập trung nghiên cứu mối liên kết trong ngành dệt may Việt Nam hiện nay, đồng thời cũng nghiên cứu những kinh nghiệm xây dựng và vận hành mô hình liên kết phù hợp với bối cảnh phát triển CNHT ngành dệt may Việt Nam trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, trong Phần III, nhóm tác giả đã đưa ra những giải pháp thúc đẩy CNHT ngành dệt may phát triển, trong đó đặc biệt nhấn mạnh hai giải pháp: nâng cao năng lực các doanh nghiệp CNHT ngành dệt may và vận hành có hiệu quả các mô hình liên kết.[103] - Nguyễn Thị Dung Huệ, (2012), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sĩ 18 kinh tế, chuyên ngành Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội. Tác giả luận án đã luận giải làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển CNHT ngành dệt may như: khái niệm CNHT ngành dệt may, mối quan hệ giữa ngành công nghiệp dệt may và CNHT ngành dệt may, vai trò của ngành CNHT dệt may với sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may. Từ đó tác giả đưa ra những tiêu chí đánh giá sự phát triển của ngành dệt may, trên cơ sở những tiêu chí đánh giá thực trạng ngành công nghiệp dệt may và CNHT ngành dệt may.
Tác giả đã đưa ra những giải pháp ở cả tầm vĩ mô và vi mô để thúc đẩy CNHT ngành dệt may Việt Nam phát triển.[43] - Đỗ Minh Thụy, (2012), “Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép - nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng”, Luận án tiến sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế, Viện Nghiên cứu kinh tế Trung ương. Tác giả đã luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về CNHT, các chỉ tiêu đánh giá và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam, từ đó xác định điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu thực trạng và nhu cầu về CNHT tại các doanh nghiệp giày dép ở Hải Phòng, từ đó xác định quan điểm, phương hướng, đề xuất 04 nhóm giải pháp phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam trong thời gian tới.