mở đầu thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và 5 van Đại học Kinh tế Huế nông thôn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2011) nêu rõ: “Con đường CNH, HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những tuần tự, và có những bước nhảy vọt”. Đối với nông nghiệp và nông thôn, “tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn. Đặc biệt hội nghị lần thứ V ban chấp hành TW Đảng khóa IX ra quyết định đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kì 2001-2010.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4-2016) chủ trương tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là xu hướng tất yếu. Đại hội đã khẳng định “Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp và nông thôn”. Do vậy, công nghiệp chế biến nó được hình thành và gắn liền với sự phân công lao động xã hội và tiến bộ về nhận thức của con người trong quá trình xây dựng về mặt kinh tế xã hội trong thời kì đổi mới.CNCB có thể được hiểu là một ngành kinh tế độc lập, bao gồm nhiều lĩnh vực sản xuất, có đặc trưng làm thay đổi về chất của các đối tượng lao động là nguyên liệu nguyên thủy thành các sản phẩm trung gian và tiếp tục biến thành một sản phẩm hoàn thiện, từ đó làm tăng giá trị của các nguyên liệu nguyên thủy và đáp ứng nhu cầu cao của con người. Qua đó, dễ dàng nhận thấy tầm quan trọng của việc chế biến nông sản đối với nông nghiệp, nông thôn.
Tóm lại, Công nghiệp chê biến nông sản là một nhóm ngành của CNCB, nó thực Formatted: Font: Italic, No underline, Font hiện các hoạt động bảo đảm, cải tiến, nâng cao giá trị sử dụng và giá trị nguồn nguyên color: Auto Formatted: Font: Italic liệu nông sản bằng phương pháp công nghiệp là chủyếu, để sản xuất hàng tiêu dùng Formatted: Font: Not Bold, Italic, No underline nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Formatted: Font: Not Bold, Italic 1. Nội dung, đặc điểm công nghiệp chế biến nông sản Formatted: No underline, Font color: Auto, Vietnamese (Vietnam) 1. Nội dung của phát triển công nghiệp chế biến nông sản.
Formatted: No underline, Font color: Auto, Vietnamese (Vietnam) a) Phát triển vềê quy mô của CNCBNS Formatted: No underline, Font color: Auto, Vietnamese (Vietnam) - Chiều rộng: Tổ chức sản xuất CNCBNS theo chiều rộng bao gồm gia tăng cơ Formatted: No underline, Font color: Auto, sở chế biến nông sản, tăng thêm nguồn vốn lớn, sản lượởng của các cơ sở sản xuất Vietnamese (Vietnam) đảm bảo tiêu chuẩn quy định. Formatted: No underline, Font color: Auto, Vietnamese (Vietnam) - Chiều sâu: Ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất, nâng cao Formatted: No underline, Font color: Auto, năng suất lao động.Chú ý đến mẫu mã, các thành phần đáp ứng nhu cầu của con người. Vietnamese (Vietnam) - Năng lực sản xuất còn phụ thuộc vào trình độ, kĩ năng lao động nư đội ngũ kĩ Formatted: No underline, Font color: Auto, Vietnamese (Vietnam) sư, công nhân lành nghề. Formatted: Font: (Default) Times New Roman, b) Nâng cao chất lượng sản xuất CNCBNS 13 pt, Italic b) Tăng năng lực sản xuất CNCBNS Formatted: Indent: Left: 0 cm, First line: 0,99 cm, Space After: 6 pt, Bulleted + Level: 1 + - Khả năng sản xuất của CNCBNS thể hiện qua sự chế biến hết nguồn nguyên Aligned at: 1,63 cm + Indent at: 2,27 cm, No widow/orphan control liệu hiện có.
Đồng thời tận dụng hết phế phẩm, tiết kiệm…đa dạng hóa sản phẩm. Ví Formatted: Indent: Left: 0 cm, First line: 0,99 dụ như sản xuất rượu có thể tận dụng hèm để nuôi lợn, làm phân bón… cm, Space After: 6 pt, Bulleted + Level: 1 + Aligned at: 0,63 cm + Indent at: 1,27 cm, No c) Khả năng của trang thiết bị, công suất của máy phải đáp ứng để chế biến widow/orphan control 6 van Đại học Kinh tế Huế nguồn nguyên liệu hiện có. Một số sản phẩm đến mùa vụ máy móc không đáp ứng đủ công suất. - - Năng lực sản xuất còn phụ thuộc vào trình độ, kĩ năng lao động như đội ngũ kĩ Formatted: No underline, Font color: Auto, Vietnamese (Vietnam) sư, công nhân lành nghề.
Formatted: Indent: Left: 0 cm, First line: 0,99 d) Nâng cao trình độ CNCBNS cm, Space After: 6 pt, Bulleted + Level: 1 + Aligned at: 0,63 cm + Indent at: 1,27 cm, No widow/orphan control Một sản phẩm tốt hay kém chất lượng phụ thuộc vào trình độ công nghệ, kĩ thuật. Formatted: Font: Not Italic, Vietnamese Máy móc, trang thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại sẽ chế tạo ra sản phẩm chất (Vietnam) lượng cao, mẫu mã đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu thị hiếu của con người. Cũng Formatted: No underline, Font color: Auto, Vietnamese (Vietnam) từ đó công ty, doanh nghiệp,… xây dựng thương hiệu của mình đủ sức cạnh tranh trên Formatted: Vietnamese (Vietnam) thị trường. Điều đó thể hiện nếu trang thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất ra sản Formatted: No underline, Font color: Auto, phẩm hàng hóa đảm bảo về chất lượng và số lượng, giá trị cá biệt thấp, song đem trao Vietnamese (Vietnam) Formatted: No underline, Font color: Auto, đổi trên thị trường thì bán đúng với giá trị thị trường… Thì khoản chênh lệch giữa giá Vietnamese (Vietnam) trị thị trường và giá cá biệt chính là lợi nhuận mà công ty, doanh nghiệp nhận được.
Và đó cũng là mục đích mà bất cứ nhà kinh doanh nào cũng hướng đến. e)c) Thay đổi cơ cấutỷ trọng sản phẩm CNCBNS Formatted: No underline, Font color: Auto, Vietnamese (Vietnam) CNCBNS sẽ làm gia tăng giá trị trong đơn vị sản phẩm theo hướng gia tăng cơ Formatted: Vietnamese (Vietnam) sở chế biến đem lại giá trị cao. Hàng hóa được tạo ra với chất lượng cao, thương hiệu Formatted: No underline, Font color: Auto, Vietnamese (Vietnam) tốt sẽ thắng đối thủ cạnh tranh trong cùng một lĩnh vực. Điều đó làm cho hàng hóa không chỉ lưu thông trong nước mà còn ở nước ngoài.
Ở tầm vĩ mô, hàng hóa được xuất khẩu các khu vực và thế giới. Với sự phân tích đó thì giá trị sản phẩm hàng hóa tăng dẫn đến tỷ trọng sản phẩm qua chế biến cũng thay đổi. Ví dụ như 1 tấn gỗ đem xuất khẩu thô thì giá trị sẽ thấp hơn nhiều so với khi đã tinh chế ra các sản phẩm. Formatted: No underline, Font color: Auto, Vietnamese (Vietnam) f)d) Các ngành sản xuất CNCBNS chính Formatted: No underline, Font color: Auto, Vietnamese (Vietnam) - Chế biến từ sản phẩm trồng trọt: nấu rượu, xay xát gạo, bánh lọc, bánh ướt, Formatted: Vietnamese (Vietnam) bún.
Formatted: No underline, Font color: Auto, - Chế biến từ sản phẩm chăn nuôi: làm nem chả, chế biến thịt hộp, chế biến thịt Vietnamese (Vietnam) của các loại gia súc… Formatted: Vietnamese (Vietnam) - Chế biến sản phẩm từ thủylâm sản: nước mắm, mực khô, mắm tôm, cá khô,… Formatted: No underline, Font color: Auto, Vietnamese (Vietnam) - Chế biến sản phẩm từ lâm sản: các sản phẩm từ gỗ,… Formatted: No underline, Font color: Auto, 1. Đặc điểm của công nghiệp chế biến Vietnamese (Vietnam) Formatted: Font: Not Bold, Italic, No So với các công nghiệp khai thác và các ngành công nghiệp chế biến khác, thì underline, Font color: Auto công nghiệp chế biến nông sản nói chung và chế biến nông, thủy sản nói riêng có một Formatted: Font: Not Bold, Italic số đặc điểm chi phối đến việc xác định vai trò và quan điểm phát triển, quản lí ngành: - Sản phẩm của công nghiệp chế biến nông sản gắn liền với nhu cầu cuộc sống hằng ngày của con người, xu hướng sử dụng ngày càng nhiều. Do nhu cầu cuộc sống ngày càng được nâng cao, đi kèm đó các nhu cầu sử dụng sản phẩm sạch ngày càng nhiều, dẫn đến sự phát triển của công nghiệp chế biến nông sản. Nhu cầu sử dụng các 7 van Đại học Kinh tế Huế loại rau, củ quả sạch; nhu cầu sử dụng các loại nông sản đã được qua chế biến.
Để đáp ứng các nhu cầu này, thì việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cũng ngày càng được đảm bảo về mặt chất dinh dưỡng, đảm bảo thời hạn sử dụng… ngày càng trở nên nghiêm ngặt hơn. Tuy nhiên điều ngày vừa có lợi vừa có những khó khăn nhất định cho công nghiệp chế biến nước ta. Do công nghệ- kĩ thuật còn thấp nên còn lạm dụng vào một số loại hóa chất, sản phẩm trở nên nguy hiểm đối với người tiêu dùng, do không biết ứng dụng khoa học kĩ thuật vào quá trình chế biến nên chỉ biết sử dụng các loại hóa chất để sản phẩm được lưu tồn lâu hơn. Dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp, gây ảnh hưởng đến hình ảnh của sản phẩm đối với người tiêu dùng.
- Công nghiệp chế biến nông sản gắn bó mật thiết với nông nghiệp. Đa phần nguyên liệu chính của công nghiệp chế biến nông sản là sản phẩm nông nghiệp (đánh bắt thủy hải sản, trồng trọt, chăn nuôi) và hầu hết được sản xuất trong nước.Vì thế nên, quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu của công nghiệp chế biến nông sản phụ thuộc rất lớn vào quy mô, tính chất và trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp. Ngược lại, chế biến nông sản lại là nguồn gốc đảm bảo đầu ra của các sản phẩm nông nghiệp. Cả hai ngành này phụ thuộc vào nhau, và tác động qua lại lẫn nhau.
Có một số điểm cần lưu ý như sau: Để chế biến nông sản, không chỉ bao gồm các nguyên liệu chính từ nông sản mà còn cần có bao bì sản phẩm, và một số yếu tố khác mà không phải do nông nghiệp cung cấp. Ví dụ như hóa chất, bao bì,… cũng là một hạn chế phát triển của công nghiệp chế biến của nước ta. Trình độ khoa học- công nghệ: gặp nhiều khó khăn, nhiều sản phẩm đòi hỏi phải có kĩ thuật và công nghệ cao mới đảm bảo được nguyên vẹn chất lượng sản phẩm. Trong khi đó công nghệ của nước ta còn gặp nhiều hạn chế, khi công nghệ đã hạn hẹp chúng ta lại còn lạm dụng các loại hóa chất quá nhiều.
- Sản phâm của công nghiệp chế biến nông sản rất phong phú và đa dạng về chủng loại, chất lượng và mức độ chế biến, và sự đa dạng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố: + Tiềm năng của nền nông nghiệp + Trình độ kỹ thuật và công nghệ của ngành công nghiệp chế biến nông sản.