Chương 1: Những lý luận cơ bản về quyền chọn và quyền chọn cổ phiếu + Đối với quyền chọn mua: Giá trị thực = MAX (S-X;0) Trong đó: S là giá thị trường của cổ phiếu cơ sở, X là giá thực hiện trên hợp đồng. Khi giá thực hiện trên hợp đồng quyền chọn mua thấp hơn giá cổ phiếu trên thị trường, lúc đó người mua hợp đồng quyền chọn sẽ có lợi nếu thực hiện hợp đồng và hợp đồng có giá trị thực. Giá trị của hợp đồng là phần chênh lệch giữa giá thị trường của cổ phiếu và giá thực hiện của quyền chọn (S-X). Còn trong trường hợp giá thực hiện trên hợp đồng quyền chọn cao hơn thị giá của cổ phiếu thì giá trị thực của quyền chọn mua bằng 0, và quyền chọn không có giá trị thực.
+ Đối với quyền chọn bán: Giá trị thực = MAX (X-S;0) Khi giá thực hiện quyền chọn bán cao hơn giá cổ phiếu trên thị trường thì hợp đồng quyền chọn có giá trị thực, đó chính là phần chênh lệch giữa giá thực hiện của quyền chọn và giá thị trường của cổ phiếu (X-S). Trường hợp giá thực hiện trên hợp đồng quyền chọn thấp hơn thị giá của cổ phiếu thì giá thực hiện của quyền chọn bán bằng 0 hay quyền chọn không có giá trị thực. • Giá trị thời gian: Giá trị thời gian là giá trị mà người bán quyền chọn chuNn bị trả cho khả năng mà thị trường có thể di chuyển theo dự đoán của nhà đầu tư trong suốt vòng đời của quyền chọn. Giá trị thời gian sẽ thay đổi khi quyền chọn có lời, hòa vốn, lỗ và có giá trị cao nhất khi quyền chọn có lời.
Khi thời gian càng gần đến ngày đáo hạn thì cơ hội để quyền chọn có thể thay đổi là giảm vì vậy giá trị thời gian cũng giảm.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến giá quyền chọn cổ phiếu. Có 6 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến giá quyền chọn cổ phiếu: giá thị trường của cổ phiếu cơ sở, giá thực hiện trên hợp đồng, thời gian đáo hạn của hợp đồng, lãi suất không rủi ro, độ biến động của giá cổ phiếu cơ sở và cổ tức. • Giá thị trường của cổ phiếu cơ sở (Market price of underlying stock): Thị trường chứng khoán luôn biến động không ngừng và giá cổ phiếu cũng vậy. Mỗi khi thị giá cổ phiếu cơ sở thay đổi thì khả năng thực thi hợp đồng quyền chọn sẽ tăng lên hoặc giảm xuống, tùy theo loại quyền chọn, khi đó sẽ kéo theo sự thay đổi của giá quyền chọn.
Khi thị giá của cổ phiếu càng cao thì người mua quyền chọn càng có lợi, lúc đó họ sẵn sàng trả giá cao hơn để có quyền mua trong tương lai, vì thế giá của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Chương 1: Những lý luận cơ bản về quyền chọn và quyền chọn cổ phiếu quyền chọn mua trong tương lai sẽ tăng, nhưng người mua quyền chọn bán sẽ bất lợi, cho nên quyền chọn bán kém hấp dẫn và giá quyền chọn bán sẽ giảm. • Giá thực hiện trên hợp đồng (Strike price): Vì giá thực hiện trên hợp đồng quyền chọn được cố định trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng nên trong trường hợp quyền chọn mua, giá thực hiện càng thấp thì khả năng thực hiện hợp đồng càng lớn, khi ấy giá quyền chọn sẽ tăng. Ngược lại, giá thực hiện của quyền chọn bán càng thấp thì giá quyền chọn càng thấp do hợp đồng sẽ ít có cơ hội để thực hiện. • Thời gian đáo hạn (Time Value): Hợp đồng quyền chọn có khoảng thời gian hiệu lực càng dài thì khả năng thị trường biến động theo hướng có lợi cho người sở hữu hợp đồng càng lớn.
Vì thế trong trường hợp quyền chọn kiểu Mỹ do người mua có thể yêu cầu thực hiện quyền của mình bất cứ lúc nào trong thời gian của hợp đồng, thời gian đáo hạn càng dài thì quyền chọn càng hấp dẫn và giá của nó càng cao. Nhưng đối với người sử dụng quyền chọn kiểu Châu Âu thì khác, do quyền chọn chỉ được thực hiện vào ngày đáo hạn của hợp đồng nên thời gian đáo hạn có ảnh hưởng không rõ ràng đến giá quyền chọn. • Lãi suất không rủi ro: Lãi suất không rủi ro có tác động lên giá của quyền chọn theo cách thức kém rõ ràng hơn. Khi lãi suất trong nền kinh tế tăng, tỷ lệ tăng trưởng mong đợi của giá cổ phiếu có xu hướng tăng theo.
Tuy nhiên, hiện giá của bất cứ dòng lưu kim nào trong tương lai mà người nắm giữ quyền chọn nhận được cũng đều giảm. Cả hai tác động này sẽ dẫn đến tìng trạng giảm giá trị của quyền chọn bán. Vì vậy, giá của quyền chọn bán sẽ bị sút giảm khi lãi suất không rủi ro tăng. Đối với trường hợp quyền chọn mua, tác động đầu tiên dẫn đến tăng giá, trong khi tác động thứ hai dẫn đến giảm giá.
Có thể thấy rằng tác động đầu tiên luôn chi phối tác động thứ hai; đó là, giá của quyền chọn mua luôn luôn tăng khi lãi suất không rủi ro tăng.3: Ảnh hưởng lên giá quyền chọn của sự thay đổi về lãi suất không rủi ro Giá quyền Giá quyền chọn bán (a) chọn mua (b) 10 10 8 8 6 6 4 4 Lãi suất không Lãi suất không 2 2 rủi ro (%) rủi ro (%) 0 2 4 6 8 10 0 2 4 6 8 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Chương 1: Những lý luận cơ bản về quyền chọn và quyền chọn cổ phiếu Cần nhấn mạnh rằng những kết quả này dựa trên giả định tất cả các biến số khác được giữ cố định. Trên thực tế, khi lãi suất tăng (hay giảm) sẽ dẫn đến giá chứng khoán giảm (hay tăng). Ảnh hưởng thuần túy của sự thay đổi lãi suất và thay đổi giá chứng khoán kèm theo có thể trái ngược với điều vừa nêu. • Độ bất ổn của giá cổ phiếu (The volatarity): Độ bất ổn của giá cổ phiếu là mức độ thiếu ổn định do sự biến động của giá cổ phiếu có thể gặp trong tương lai.
Khi độ bất ổn tăng, cơ hội trên cổ phiếu cũng sẽ tăng hoặc là rất tốt hoặc là rất xấu. Đối với người nắm giữ cổ phiếu, hai kết quả này có xu hướng bù trừ lẫn nhau. Tuy nhiên, điều này sẽ không có đối với người mua quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán. Người mua quyền chọn mua có lợi khi giá tăng nhưng sẽ bị giới hạn của rủi ro có chiều tiếp tục đi xuống khi giá giảm.
Tương tự, người mua quyền chọn bán có lợi khi giá giảm, nhưng sẽ bị giới hạn của rủi ro có chiều tiếp tục đi xuống khi giá tăng. Vì vậy, giá trị của cả quyền chọn mua và quyền chọn bán đều tăng khi độ bất ổn tăng (Hình 1.4: Ảnh hưởng lên giá quyền chọn của sự thay đổi về độ bất ổn Giá quyền Giá quyền (a) (b) chọn mua chọn bán, p 15 10 12 12 9 9 6 6 3 Độ bất ổn (%) 3 Độ bất ổn (%) 0 10 20 30 40 50 0 10 20 30 40 50 • Cổ tức: Cổ tức có ảnh hưởng làm giảm giá cổ phiếu trong thời gian không trả cổ tức. Đây là điều xấu đối với giá trị của quyền chọn mua và là điều tốt đối với giá trị của quyền chọn bán. Vì vậy, giá trị của quyền chọn mua tỷ lệ nghịch với độ lớn bất kỳ của mức cổ tức mong đợi, và giá trị của quyền chọn bán tỷ lệ thuận với độ lớn bất kỳ của mức cổ tức mong đợi.1: Tóm tắt ảnh hưởng đến giá của quyền chọn cổ phiếu khi tăng một biến số và cố định những biến số khác.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Chương 1: Những lý luận cơ bản về quyền chọn và quyền chọn cổ phiếu Quyền chọn Quyền chọn Quyền chọn Quyền chọn Biến số mua bán mua bán Châu Âu Châu Âu Kiểu Mỹ Kiểu Mỹ Giá cổ phiếu + - + - Giá thực hiện - + - + Thời gian đáo hạn ? ? + + Độ bất ổn + + + + Lãi suất không rủi + - + - ro Cổ tức - + - + Ghi chú: + Biến số tăng làm cho giá quyền chọn tăng. - Biến số tăng làm cho giá quyền chọn giảm ? Không chắc sẽ có mối liên hệ.5 Các chiến lược quyền chọn cổ phiếu nhằm bảo hộ các nhà đầu tư. Thị trường chứng khoán dịch chuyển rất phức tạp, nhưng chung quy thì thị trường cũng có bốn xu hướng chính: • Thị trường hướng lên: đó là khi nhà đầu tư mong chờ giá cổ phiếu tăng trong tương lai. • Thị trường hướng xuống: Khi nhà đầu tư mong chờ giá cổ phiếu sẽ giảm.
• Thị trường ổn định hoặc có sự biến động về giá không nhiều. • Thị trường được dự đoán là biến động nhiều, nhưng xu hướng tăng giảm không thể xác định trước.1 Khi thị truờng hướng xuống 1.1 Quyền chọn đơn và cổ phiếu - Chiến lược bán quyền chọn mua tương ứng với mỗi cổ phiếu đang sở hữu. Một chiến lược đơn giản nhưng có rủi ro thấp là bán một quyền chọn mua tương ứng với mỗi cổ phiếu đang sở hữu. Mặc dù chiến lược này không phải là phi rủi ro, nhưng nó cũng làm giảm rủi ro của việc chỉ sở hữu cổ phiếu.
Nó cũng là một trong số các chiến lược phổ biến nhất của các nhà kinh doanh quyền chọn chuyên nghiệp. Với hợp đồng bán quyền chọn mua cổ phiếu, người bán phải chịu rủi ro không giới hạn, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Chương 1: Những lý luận cơ bản về quyền chọn và quyền chọn cổ phiếu nếu kết hợp với việc sở hữu cổ phiếu, sẽ không còn rủi ro phải mua nó trên thị trường với mức giá cao. Khi quyền chọn mua được thực hiện, nhà đầu tư chỉ phải chuyển giao cổ phiếu. Đứng trên một quan điểm khác, người sở hữu cổ phiếu mà không bán quyền chọn gặp phải rủi ro đáng kể của việc giá cổ phiếu giảm xuống.
Bằng cách bán một quyền chọn mua đối với cổ phiếu đó, nhà đầu tư đã làm giảm rủi ro giảm giá. Nếu cổ phiếu giảm đáng kể, khoản lỗ sẽ được bù đắp một phần bởi phí quyền chọn nhận được từ việc bán quyền chọn mua.5 : Chiến lược bán quyền chọn mua tương ứng với mỗi cổ phiếu đang sở hữu. π 0 X ST Trong đó: π là lợi nhuận; ST: giá trị cổ phiếu lúc đáo hạn; X: giá thực hiện, S0: Giá mua cổ phiếu hiện tại.