Chương 1: Cơ sở lý thuyết 1. Lý thuyết hội thoại 1. Khái niệm hội thoại 1. Các đơn vị hội thoại 1.
Vận động của hội thoại 1. Nguyên tắc cộng tác hội thoại Khoa Ngôn Ngữ Học 8 Lớp Cao học K53 z Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh 2. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ 2. Khái niệm hành vi tại lời 2.
Tiêu chuẩn phân loại hành vi tại lời 2. Các loại hành vi tại lời 3. Chỉ tố liên kết 3. Tiểu kết Chương 2: Chỉ tố liên kết đa chức năng với việc phát triển chủ đề hội thoại 1.
Hình thức phát triển chủ đề hội thoại 1. Phát triển bằng cặp chêm xen 1. Phát triển bằng hành vi ở lời 2. Các chỉ tố liên kết đa chức năng tham gia vào phát triển chủ đề hội thoại 2.
Đại từ hồi chỉ – khứ chỉ 2. Phó từ chỉ thời – thể 2. Tiểu từ tình thái cuối câu 2. Quán ngữ tình thái 3.
Tiểu kết Chương 3: Chỉ tố liên kết đơn chức năng với việc phát triển chủ đề hội thoại 1. Chỉ tố liên kết biểu thị quan hệ về trình tự thời gian 2. Chỉ tố liên kết biểu thị quan hệ nhân – quả 3. Chỉ tố liên kết biểu thị quan hệ tương đồng 4.
Chỉ tố liên kết biểu thị quan hệ tương phản 5. Tiểu kết Khoa Ngôn Ngữ Học 9 Lớp Cao học K53 z Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh NỘI DUNG Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết 1. Lý thuyết hội thoại 1. Khái niệm Hội thoại là một hoạt động xã hội, được nảy sinh nhờ vào sự tham gia của người phát lời và người thụ lời.
Trong cuộc thoại khi hoạt động phản hồi nảy sinh, vai trò của hai người tham gia cuộc thoại đã thay đổi. Bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe. Có nhiều yếu tố tham gia vào tạo lập hội thoại. Theo Đỗ Hữu Châu, các cuộc thoại có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh như: Thời gian, không gian, số lượng người tham gia, về cương vị và tư cách người tham gia cuộc thoại, về tính chất cuộc thoại, về vị thế giao tiếp, về tính có đích hay không có đích, tính hình thức hay không hình thức, về ngữ điệu hay động tác kèm lời… Những yếu tố này không tách rời nhau mà liên kết nhau, tạo thành một khối lượng thống nhất Khoa Ngôn Ngữ Học 10 Lớp Cao học K53 z Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh hữu quan trong hội thoại, chi phối và điều hòa cuộc thoại để đạt đến đích cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định.
Hội thoại là một sự nỗ lực hợp tác giữa các bên tham gia, có thể có ba bên hoặc nhiều hơn thế. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn của mình, chúng tôi chỉ chủ yếu đề cập đến hội thoại hai bên hay còn gọi là song thoại. Các đơn vị hội thoại Hội thoại cũng có cấu trúc nội tại của nó. Mục đích của việc phân tích cấu trúc hội thoại là làm rõ người phát lời muốn biểu đạt cái gì và người thụ lời lý giải nghĩa như thế nào và phản ứng ra sao.
Theo tổng kết của Đỗ Hữu Châu trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học tập 2, nghiên cứu về cấu trúc hội thoại có 3 trường phái tiêu biểu, đó là: trường phái phân tích hội thoại ở Mỹ, trường phái phân tích diễn ngôn ở Anh và trường phái lý thuyết hội thoại Thụy Sỹ - Pháp. Lý thuyết phân tích hội thoại cho rằng hội thoại có hai tổ chức tổng quát, đó là: tổ chức cặp và tổ chức được ưa thích. Các tổ chức đó được xây dựng từ lượt lời. Như vậy, theo quan điểm này thì lượt lời chính là đơn vị cơ sở, tổ chức nên các đơn vị lớn hơn của hội thoại.
Lượt lời do các hành vi ngôn ngữ tạo ra và khi chúng đi với nhau lập thành từng cặp. Cặp kế cận (cách gọi của Schegloff và Sacks, 1973) là hai phát ngôn mang đặc điểm: kế cận nhau, do hai người khác nhau nói ra, được tổ chức thành bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai, có tổ chức riêng sao cho bộ phận riêng thứ nhất đòi hỏi phải có bộ phận riêng thứ hai. Trong một số trường hợp, bộ phận thứ hai của cặp kế cận không xuất hiện ngay sau bộ phận thứ nhất thì giữa chúng có sự có mặt của cặp chêm xen. Chúng tôi coi cặp chêm xen là một yếu tố làm cho chủ đề hội thoại phát triển và sẽ khảo sát kỹ hơn ở chương sau.
Trong khi đó, trường phái phân tích diễn ngôn và trường phái lý thuyết hội thoại tuy có sự khác nhau đôi chút về tên gọi song giống nhau về cấu trúc tầng bậc của các đơn vị hội thoại và gần với thực tế giao tiếp hơn. Theo đó, các đơn vị làm nên một cấu trúc hội thoại bao gồm: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp Khoa Ngôn Ngữ Học 11 Lớp Cao học K53 z Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh thoại, tham thoại (bước thoại, lượt lời) và hành động ngôn từ. Trong đó,cuộc thoại, đoạn thoại và cặp thoại là ba đơn vị lưỡng thoại (do hai thoại nhân tạo nên nhờ vận động trao đáp). Cuộc thoại Cuộc thoại đó là một lần trao đổi, nói chuyện cá nhân trong hoàn cảnh xã hội nào đó.Orcchioni, để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, trong một khung thời gian – không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng.
(Dẫn theo [7], trang 298) Như vậy, một cuộc thoại cần phải tuân thủ theo một hướng nhất định từ đầu cho đến khi kết thúc. Đó chính là mục đích mà bất cứ cuộc hội thoại nào cũng cần đạt được. Đoạn thoại Mỗi cuộc thoại bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc, chúng làm nên ranh giới của một cuộc thoại. Mỗi cuộc thoại lại chứa đựng nhiều chủ đề, mỗi chủ đề lại có nhiều vấn đề.
Tập hợp các lượt lời trao đổi về một vấn đề làm thành một đoạn thoại. Chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu khi cho rằng: “Đoạn thoại là mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng”. Trong đoạn thoại những người tham gia hội thoại nói về cùng một chủ đề. Một đoạn thoại thông thường bao gồm ba phần: mở thoại (dẫn nhập đề tài), thân thoại (triển khai đề tài) và kết thoại (kết thúc hội thoại).
Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi không có ý định đi sâu nghiên cứu mô hình của đoạn thoại và sự dẫn nhập đề tài hội thoại như thế nào, mà chỉ muốn chỉ ra một ranh giới tương đối của các đơn vị trong cấu trúc của hội thoại làm cơ sở cho các bước khảo cứu của chúng tôi ở chương 2 và chương 3. Cặp thoại Khoa Ngôn Ngữ Học 12 Lớp Cao học K53 z Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất tạo nên đoạn thoại và qua đoạn thoại mà góp phần tổ chức nên cuộc thoại. Các loại cặp thoại thường gặp: Cặp thoại tối thiểu, cặp thoại một tham thoại, cặp thoại chủ hướng và cặp thoại phụ thuộc. Cặp thoại tối thiểu tương đương với sự kiện lời nói tối thiểu, tức là tối thiểu cặp thoại phải là một cặp kế cận với hành động dẫn nhập và hành động hồi đáp.
Cặp thoại một tham thoại xảy ra khi: người nghe thực hiện một hành động vật lý (gật đầu, lắc đầu, xua tay,…) thay cho hành động ngôn ngữ hoặc khi người nghe im lặng, không có hành động hồi đáp nào, trường hợp như vậy gọi là cặp thoại hẫng. Tham thoại Tham thoại hay còn gọi là Bước thoại. Cặp thoại là cấu trúc gồm hai tham thoại do hai đối tác của cuộc hội thoại tạo nên. Tham thoại là phần đóng góp của một thoại nhân vào một cặp thoại.
Tham thoại do hành động ở lời tạo nên. Dựa trên phân loại về hành vi cơ sở của Hinderlang, Đỗ Hữu Châu cho rằng có 7 tham thoại cơ sở: Dẫn nhập (DN), Phản hồi tích cực (PHTC), Phản hồi tiêu cực (PHTiC), Tái dẫn nhập (TDN), Phản dẫn nhập (PDN), Xét lại (XL) và Từ bỏ (TB). Về tổ chức nội tại, tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên. Một tham thoại có một hành vi chủ hướng (hành động quyết định đích của tham thoại, cùng với hành động chủ hướng của tham thoại kia trong cặp thoại lập thành một cặp kế cận) và có thể có hành vi phụ thuộc (làm rõ lý do hoặc bổ sung nghĩa cho hành động chủ hướng).
Hành động chủ hướng của một tham thoại hoặc đòi hỏi hành động chủ hướng của tham thoại kia trong cặp thoại hồi đáp hoặc hồi đáp cho hành động chủ hướng của tham thoại ấy. Vận động của hội thoại Khoa Ngôn Ngữ Học 13 Lớp Cao học K53 z Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định. Những quy tắc chi phối trực tiếp đến cuộc thoại theo C.Orecchioni bao gồm: quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời, quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại và quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại. Tác giả Đỗ Hữu Châu [8] đề nghị bổ sung thêm một nhóm quy tắc điều hành nội dung của hội thoại.
Ông cho rằng các loại quy tắc đó có vai trò “làm cơ sở, đứng đằng sau sự vận hành của hội thoại”. Nguyên lí chi phối các quy tắc hội thoại là nguyên lí cộng tác bởi vì hội thoại là một hoạt động xã hội. Từ nguyên lí chung này mà các quy tắc hội thoại ràng buộc các đối tác hội thoại trong một hệ thống những quyền lợi và trách nhiệm. Luân phiên lượt lời là nguyên tắc của sự tương tác qua lại trong hội thoại.
Trong cuộc thoại mỗi lúc có một người nói và không đồng thời. Người nói luân phiên nhau và đó là lượt lời. Sẽ không có lượt lời nếu nhiều người nói cùng một lúc. Như vậy vai nói sẽ thường xuyên thay đổi, trật tự của những người nói không cố định mà luôn thay đổi.
Đồng thời lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai. Khi nói một điều, người ta dự đoán chờ một điều khác sẽ xảy ra. Nghĩa là hai lượt lời có quan hệ mật thiết với nhau, liên kết chặt chẽ với nhau. Hội thoại là một hình thức hoạt động xã hội, nên theo G.