phần mở đầu, lời cam đoan, mục lục, danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt, danh mục các bảng, danh mục hình vẽ, đồ thị, và kết luận thì kết cấu của luận văn bao gồm 3 chƣơng nhƣ sau: 7 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần ngoại thƣơng Việt Nam- Chi nhánh Cần Thơ. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Cần Thơ. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 KHÁI QUÁT VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái quát cho vay tiêu dùng Trong giai đoạn gần đầy, hoạt động cho vay tiêu dùng (CVTD) đã trở thành mục tiêu của nhiều ngân hàng thƣơng mại (NHTM).
Thêm vào đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống của nhân dân đã đƣợc cải thiện đáng kể, nhu cầu chi tiêu phục vụ đời sống ngày càng cao, đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng nói chung và lĩnh vực CVTD nói riêng phát triển. Để làm rõ khái niệm về CVTD, trƣớc hết ta cần hiểu một số khái niệm sau. Trong Từ điển Kinh tế học của tác giả Nguyễn Văn Ngọc, tiêu dùng (consumption) đƣợc hiểu là hành vi sử dụng hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu hiện tại. Thông tƣ 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài đối với khách hàng định nghĩa cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Cũng trong Thông tƣ trên, định nghĩa việc cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó. Từ những khái niệm trên, CVTD có thể đƣợc hiểu là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân. Các khoản CVTD là nguồn tài chính quan trọng giúp ngƣời tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống nhƣ nhà ở, phƣơng tiện đi lại, 9 tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế… trƣớc khi họ có đủ khả năng về tài chính để hƣởng thụ. Tùy vào từng đối tƣợng khách hàng, mục đích vay, mức cho vay hay thời hạn cho vay,.
mà tổ chức tín dụng có thể CVTD có hoặc không có tài sản bảo đảm. Đối tƣợng mà loại tín dụng này hƣớng đến rất rộng với số lƣợng lớn, tuy vậy khối lƣợng vay lại thƣờng khá nhỏ. Chất lƣợng các thông tin tài chính của các khách hàng vay thông thƣờng không cao. Đối với các khách hàng cá nhân thì thông tin rất khó xác định.
Tỷ trọng cho vay trung hạn đối với tín dụng bán lẻ có xu hƣớng cao hơn mức bình quân chung, do các nhu cầu cho vay trung dài hạn mua nhà ở đất ở, mua sắm tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn, bên cạnh đó khách hàng vay thƣờng không chủ động kế hoạch hóa về dòng tiền, các nhu cầu vay tiêu dùng thông thƣờng có thời hạn trên 12 tháng. Ngoài ra, nhu cầu đƣợc cấp tín dụng bán lẻ của khách hàng chịu tác động mạnh và phụ thuộc lớn vào tình hình kinh tế, thu nhập, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát,. Chi phí cho tín dụng bán lẻ lớn hơn mức bình quân chung, do các khoản vay nhỏ lẻ, lƣợng khách hàng lớn nên chi phí quản lý, chi phí hoạt động lớn. Do nhu cầu sử dụng vốn trung dài hạn cao nên chi phí vốn cao.2 Đặc điểm cho vay tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mại Đa số các sản phẩm CVTD của NHTM thƣờng có các đặc điểm nhƣ sau: - Qui mô của từng hợp đồng vay thƣờng nhỏ dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao.
Dù giá trị khoản vay là lớn hay nhỏ thì nhân viên ngân hàng vẫn phải thực hiện đầy đủ các bƣớc trong qui trình tín dụng, dẫn tới chi phí quản lí món vay này có thể tƣơng đƣơng với chi phí cho doanh nghiệp vay một món lớn để sản xuất kinh doanh. - Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu nhƣ ít co dãn với lãi suất. Ngƣời tiêu dùng quan tâm đến khoản tiền họ phải trả hàng tháng hơn là lãi suất. Mức thu nhập và trình độ dân trí tác động rất lớn đến việc sử dụng các khoản tiền vay của 1 ngƣời tiêu dùng.
Điều này có thể xem là một lợi thế đối với phía NHTM khi có thể nâng cao lãi suất để bù đắp cho chi phí quản lý. - Nguồn trả nợ có thể biến động lớn. Chênh lệch giữa thu nhập với chi phí sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình chính là nguồn để hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng. Các yếu tố này lại dễ dàng bị ảnh hƣởng khi có sự thay đổi về các điều kiện khách quan và chủ quan: Điều kiện kinh tế, xã hội, sức khỏe, các khoản phát sinh bất khả kháng.
- Tƣ cách của khách hàng là yếu tố khó xác định. Xác định tƣ cách khách hàng là quan trọng quyết định thiện chí trả nợ của khách hàng. Tuy nhiên, việc thu thập thông tin của nhóm khách hàng này khó đầy đủ và chính xác, dẫn tới việc ngân hàng dễ đƣa ra quyết định sai lầm, rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi.3 Phân loại cho vay tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mại Căn cứ vào mục đích vay + CVTD cƣ trú (residential morage loan) là các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng, mua sắm hoặc cải tạo nhà ở của cá nhân, hộ gia đình. + CVTD không cƣ trú (nonresidential morage loan) đó là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống nhƣ mua sắm phƣơng tiện, đồ dùng, du lịch, học hành hoặc giải trí… Đặc điểm của những khoản tín dụng này là thƣờng có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ ngắn.
Căn cứ vào phƣơng thức hoàn trả nợ Cho vay tiêu dùng trả góp: Đây là hình thức cho vay trong đó ngƣời đi vay trả nợ (gồm cả gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay, phƣơng thức này thƣờng áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập từng kỳ của ngƣời đi vay không đủ để thanh toán hết một lần số nợ vay. Đối với loại cho vay tiêu dùng này, các ngân hàng thƣờng chú ý đến một số vấn đề cơ bản, có tính nguyên tắc sau: 1 Loại tài sản được tài trợ Thực tế cho thấy thiện chí trả nợ của ngƣời vay sẽ tốt hơn rất nhiều nếu tài sản đƣợc hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu cấp thiết của họ lâu dài trong tƣơng lai. Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, ngân hàng thƣờng chú ý đến điều này nên chỉ muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm đối với tài sản có thời hạn sử dụng lâu bền và có giá trị lớn vì với những tài sản này, ngƣời tiêu dùng sẽ đƣợc hƣởng những tiện ích từ chúng trong một thời gian dài. Số tiền phải trả trước Ngân hàng yêu cầu ngƣời đi vay phải thanh toán trƣớc một phần giá trị tài sản cần mua sắm- số tiền này đƣợc gọi là số tiền phải trả trƣớc, phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay, số tiền trả trƣớc cần phải đủ lớn để một mặt làm cho ngƣời vay nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu của tài sản, mặt khác có tác dụng hạn chế rủi ro cho ngân hàng.
Một khi không cảm nhận đƣợc rằng mình là chủ sở hữu của tài sản hình thành từ tiền vay thì ngƣời vay có thái độ miễn cƣỡng trong việc trả nợ. Ngoài ra, khi khách hàng không trả nợ trong nhiều trƣờng hợp ngân hàng đành phải bán và thanh lý tài sản để thu hồi nợ. Số tiền phải trả trƣớc thƣờng phụ thuộc vào các yếu tố sau: - Loại tài sản: Đối với các tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền phải trả trƣớc nhiều và ngƣợc lại, đối với các tài sản có mức độ giảm giá chậm. Thì số tiền phải trả trƣớc ít.
- Thị trƣờng tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng: nếu hàng hoá đó đƣợc tiêu thụ một cách nhanh chóng và dễ dàng sau khi sử dụng thì số tiền trả trƣớc sẽ ít hơn là trong trƣờng hợp ngƣợc lại. - Môi trƣờng kinh tế: nếu môi trƣờng kinh tế ổn định thì thiện chí của ngân hàng trong việc cho vay sẽ tốt hơn và có thể yêu cầu một mức trả trƣớc thấp hơn. 1 - Năng lực tài chính của ngƣời đi vay: Ngƣời vay có năng lực tài chính tốt đã là một trong những đảm bảo cho việc thu hồi nợ của ngân hàng nên ngân hàng có thể yêu cầu ngƣời vay một mức trả trƣớc thấp hơn nếu ngay lúc đó ngƣời vay chƣa có đủ. Chi phí vay vốn Chi phí tài trợ là chi phí mà ngƣời đi vay phải trả cho ngân hàng trong việc sử dụng vốn.
Chi phí tài trợ chủ yếu bao gồm lãi vay và các chi phí khác có liên quan. Chi phí tài trợ phải đủ trang trải cho chi phí huy động, chi phí hoạt động, rủi ro đồng thời phải mang lại một phần lợi nhuận cho ngân hàng. Điều khoản thanh toán Khi xác định điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của khách hàng, ngân hàng thƣờng chú ý đến các vấn đề sau: - Số tiền thanh toán mỗi định kỳ phải phù hợp với khả năng và thu nhập, trong mối quan hệ hài hoà với nhu cầu chi tiêu khác của khách hàng. - Giá trị tài sản tài trợ không đƣợc thấp hơn số tiền tài trợ chƣa đƣợc thu hồi.
- Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng, kỳ hạn trả nợ thƣờng theo tháng vì thông thƣờng, nguồn trả nợ chính của ngƣời vay tiêu dùng là lƣơng đƣợc nhận hàng tháng. - Thời hạn cho vay không nên quá dài. Thời hạn cho vay bị giới hạn bởi thời gian hoạt động của tài sản tài trợ. Thời hạn cho vay quá dài trong trƣờng hợp giá trị tài sản tài trợ giảm mạnh sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng.
Hơn nữa khi thời hạn cho vay quá dài thì thiện chí trả nợ của ngƣời vay cũng nhƣ việc thu nợ thƣờng gặp nhiều rắc rối.