Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Thăng Long. - Chương 4: Giải pháp phát triển cho vay tiêu dung tại Ngân hàng Thương mại cổ phần xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Thăng Long. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, đã có khá nhiều những nghiên cứu được thực hiện về tín dụng tại các NHTM nói chung, phát triển cho vay tiêu dùng nói riêng. Dưới đây là một số nghiên cứu tham khảo: Các nghiên cứu quốc tế: Hawley & Fujii (2016) trong bài nghiên cứu “Phân tích thông tin từ dữ liệu khảo sát tài chính tiêu dùng ở các tổ chức tín dụng ở Singarpore” đã phân tích thông tin từ dữ liệu khảo sát tài chính tiêu dùng ở các tổ chức tín dụng ở Singarpore bằng hồi qui mô hình Probit, cho thấy các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận tín dụng tiêu dùng: chủng tộc, tuổi, giới tính và tình trạng hôn nhân, thu nhập và chi tiêu.
Chien & DeVaney (2018) trong bài nghiên cứu về cho vay tiêu dùng tại Hàn Quốc đã sử dụng dữ liệu khảo sát về tài chính tiêu dùng của 4.305 cá nhân trong giai đoạn từ 2008-2015 ở Hàn Quốc, bằng phân tích hồi quy mô hình Tobit, cho thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng tới lượng tín dụng tiêu dùng ở tổ chức tín dụng. Cá nhân có trình độ học vấn cao hơn, có gia đình và có chuyên môn cũng như có thái độ rõ ràng đối với nghĩa vụ trả nợ sẽ có chất lượng tín dụng cao hơn”. Kim & DeVaney (2018) trong bài nghiên cứu về hành vi sử dụng thẻ tín dụng ở Hoa Kỳ cho mục đích tiêu dùng đã sử dụng dữ liệu khảo sát tài chính tiêu dùng của 3.376 cá nhân sử dụng thẻ tín dụng (tín dụng tiêu dùng) ở Hoa Kỳ và phân tích bằng mô hình hồi quy hai bước của Heckman đã kết luận nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sử dụng thẻ tín dụng của cá nhân. Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sử dụng thẻ tín dụng của cá nhân, ngoài tuổi của cá nhân 5 có ảnh hưởng thuận, các yếu tố trình độ học vấn của cá nhân, thu nhập, tài sản thanh khoản, bất động sản, lãi suất và kỳ hạn khoản vay cùng có tác động nghịch.
Các yếu tố ảnh hưởng cùng có tác động thuận tới chất lượng tín dụng: trình độ học vấn, mức thu nhập và giá trị bất động sản”. Zhu & De'Armond (2018) trong bài nghiên cứu về chi tiêu tiêu dùng cá nhân ở Hòa Kỳ đã sử dụng thông tin từ khảo sát chi tiêu dùng của 7.579 cá nhân ở Hoa Kỳ, bằng phân tích hồi qui mô hình logit đã kết luận các yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê tới khả năng tiếp cận tín dụng tiêu dùng của cá nhân: chủng tộc, tình trạng hôn nhân, tình trạng việc làm và trình độ học vấn của cá nhân; thu nhập, trợ cấp và nhà ở cá nhân. Trong đó, trình độ học vấn của cá nhân, thu nhập và có trợ cấp có tác động thuận; cá nhân độc thân, thất nghiệp có tác động nghịch tới khả năng tiếp cận tín dụng. Các yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê tới lượng vốn tín dụng của cá nhân, bao gồm: tuổi, trình độ học vấn của cá nhân; thu nhập và có nguồn vay khác”.
Các nghiên cứu trong nước: Hội thảo “Những thách thức của NHTM Việt Nam trong cạnh tranh và hội nhập quốc tế”, 2018. Trong hội thảo, tác giải Phạm Thị Ngọc Mai trong bài viết của mình với chủ đề “Những thách thức đối với hoạt động ngân hàng trong giai đoạn hiện nay” đã phân tích một cách toàn diện thực trạng của các NHTM Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị có tính khả thi để nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong khuôn khổ của bài viết, tác giả đã đưa ra những định hướng phát triển cho hệ thống NHTM Việt Nam và đặc biệt nhấn mạnh tới tiềm năng của lĩnh vực CVTD. Tọa đàm khoa học “Cho vay tiêu dùng - Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam”, Học viện Ngân hàng phối hợp với Viện chiến lược Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tổ chức tại Học viện Ngân hàng - Phân 6 viện Phú Yên, ngày 25/09/2018.
Tại buổi tọa đàm, các nhà khoa học và lãnh đạo Ngân hàng các địa phương đã tập trung thảo luận, làm rõ vấn đề: Thuận lợi và khó khăn trong CVTD tại Việt Nam và triển vọng phát triển CVTD tại Việt Nam. Thu Hương Anh, 2019, “Thực trạng cho vay KHCN và giải pháp tại ngân hàng TMCP Á Châu - chi nhánh Hà Nội”. Luận văn Thạc sĩ, Học viên Ngân hàng. Luận văn đã nêu rõ thực trạng cho vay KHCN trong giai đoạn 2005-2009 tại Ngân hàng TMCP Á Châu, CN Hà Nội và đưa ra giải pháp để mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng trên địa bàn Hà Nội.
Trần Thị Kim Dung, 2020, “Mở rộng hoạt động cho vay KHCN tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương chi nhánh Hưng Yên”. Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Luận văn đã chỉ ra tiềm năng của việc mở rộng hoạt động cho vay KHCN tại Vietinbank trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Đặng Ngọc Việt, 2020, “Giải pháp mở rộng cho vay KHCN tại NHTM Cổ phần Ngoại thương Việt Nam”.
Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Đà Nẵng. Tác giả phân tích, lý giải các vấn đề liên quan đến mở rộng cho vay KHCN, nội dung mở rộng cho vay KHCN, tiêu chí đánh giá mở rộng cho vay KHCN tại Vietcombank. Nguyễn Cao Cường, 2021, “Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội”. Luận văn Thạc sĩ, Học viện Ngân hàng.
Luận văn đưa ra hệ thống lý luận chung về NHTM, đánh giá thực trạng cho vay tiêu dùng trong giai đoạn 2019 – 2021 và đưa ra một số giải pháp phát triển CVTD tại Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội. Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều chỉ ra rằng CVTD là hoạt động tiềm năng, còn nhiều dư địa phát triển tại các NHTM tại Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu về CVTD hoặc là mang tính vĩ mô ứng dụng chung cho 7 toàn bộ hệ thống NHTM hoặc là còn mang tính cá thể khi chỉ đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CVTD tại một ngân hàng hoặc một chi nhánh ngân hàng xác định. Khi nền kinh tế có nhiều biến động như hiện nay, nhu cầu vay tiêu dùng của người dân cũng chịu ảnh hưởng theo và có nhiều sự thay đổi; Thêm vào đó, hiện nay chưa có một nghiên cứu nào về hoạt động CVTD tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – PGBank giai đoạn 2019- 2021, đặc biệt là tại chi nhánh Thăng Long của Ngân hàng, đây là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu về hoạt động này trong nội dung của luận văn.
Cơ sở lý luận về Ngân hàng Thƣơng mại và hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thƣơng mại 1. Tổng quan về Ngân hàng Thương mại và hoạt động của Ngân hàng thương mại. Khái niệm Ngân hàng Thương mại Luật Các Tổ chức tín dụng (2010) định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.” Có thể nói, NHTM là những doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt – tiền tệ. Đặc trưng của ngân hàng thương mại Thứ nhất, ngân hàng thương mại có chức năng nhận và kinh doanh tiền gửi.
Tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất của các NHTM là các khoản đầu tư và cho vay. Nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất là vốn huy động. Doanh thu chính của các NHTM là doanh thu từ hoạt động cho vay và các dịch vụ khác; Chi phí lớn nhất của NHTM là lãi phải trả cho khách hàng gửi tiền. Do vậy, để an toàn trong hoạt động kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh trong toàn ngành, các ngân hàng luôn phải làm đúng theo quy định, luật của NHNN và Chính phủ.
8 Thứ hai, hoạt động của ngân hàng thương mại gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng giữa những người có tiền dư thừa với những người đang cần tiền, các NHTM đã tự tạo ra những công cụ tài chính thay thế cho tiền làm phương tiện thanh toán. Việc này giúp cho một khối lượng lớn tiền trong xã hội được giao dịch thông qua ngân hàng. Từ đó có thể nhận thấy mức độ mật thiết giữa hệ thống thanh toán và hệ thống lưu thông tiền tệ trong ngân hàng.
Như vậy, sự ổn định và lành mạnh của nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng bởi sự phát triển ổn định của hệ thống NHTM.” Thứ ba, hoạt động của ngân hàng thương mại chứa đựng nhiều rủi ro và rủi ro từ này dễ lây lan ra toàn hệ thống. Do đó, hoạt động ngân hàng luôn chịu sự giám sát, kiểm soát chặt chẽ của pháp luật và ngân hàng nhà nước. Rủi ro trong hoạt động ngân hàng có thể đến từ nhiều yếu tố: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro đạo đức, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro vốn khả dụng.Các ngân hàng thường có mạng lưới rộng khắp, vì vậy các rủi ro thường phức tạp và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế. Thứ tƣ, hoạt động ngân hàng thương mại ngày càng trở nên đa dạng và có phạm vi rộng lớn.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì hoạt động của NHTM cũng phát triển mạnh hơn. Ngoài cũng hoạt động sẵn có như: huy động vốn, cho vay, thanh toán thì NHTM hiện nay còn có nhiều chức năng hơn nữa: kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh, tư vấn tài chính, bảo hiểm, đầu tư chứng khoán, tài trợ xuất nhập khẩu. Để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, các ngân hàng mở rộng mạng lưới rộng khắp cả nước và vươn ra quốc tế. Cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại 1.