phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì nội dung nghiên cứu của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƢƠNG - CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ Chƣơng 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƢỢNG - CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ 4 PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI QUÁT PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Khái niệm cho vay tiêu dùng, phát triển cho vay tiêu dùng. Trƣớc thực trạng cạnh tranh gay gắt trong nền kinh tế thị trƣờng, các Ngân hàng thƣơng mại cũng nhƣ bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào đều phải tập trung nguồn lực để hoàn thiện và đa dạng hóa các sản phẩm của mình nhằm thu hút khách hàng, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. CVTD không chỉ đem lại lợi ích cho các Ngân hàng thƣơng mại, cho khách hàng mà còn thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng và phát triển.
Vì vậy, các ngân hàng thƣơng mại luôn quan tâm chú trọng phát triển cung cấp sản phẩm dịch vụ này. Theo từ điển bách khoa toàn thƣ Việt Nam định nghĩa “Phát triển” nhƣ sau: “Phát triển là quá trình lớn lên hay tăng tiến về mọi mặt của một sự vật hiện tƣợng trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô và sự tiến bộ về cơ cấu, chất lƣợng”. Nhƣ vậy, từ định nghĩa về phát triển và các lý luận về CVTD cho thấy: Phát triển CVTD là gia tăng cả về quy mô và chất lƣợng khoản vay, tức là: quy mô cho vay mở rộng, số lƣợng khách hàng vay vốn ngân hàng ngày càng gia tăng, đa dạng hóa đối tƣợng cho vay, tỷ lệ nợ xấu giảm, đáp ứng các nhu cầu của khách hàng và cuối cùng mang lại hiệu quả cho ngân hàng đồng thời có thể giữ vững vị thế của ngân hàng trên thƣơng trƣờng.
Sự ra đời của hoạt động tiêu dùng là một kết quả tất yếu của quá trình phát triển của nền kinh tế. Nhu cầu vay tiêu đã luôn tồn tại, song sự kém linh hoạt của cơ chế cho vay và trả nợ trong quá khứ, khi mà các sản phẩm cho vay còn đơn điệu và kém phù hợp, đã khiến cho nhu cầu vay tiêu dùng không đƣợc đáp ứng. Công nghệ thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hỗ trợ ra đời các sản phẩm CVTD, cải thiện đáng kể năng lực của các nhà cung cấp trong việc quản lý 5 khoản vay, đồng thời cho phép thực thi những cơ chế trả nợ linh hoạt và phù hợp hơn. CVTD đã phát triển nhƣ là một xu hƣớng tất yếu mang tính thời đại.
Phát triển CVTD chính là hƣớng đi hợp lý của các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam trong những năm tới, phù hợp với mô hình của các ngân hàng hiện đại trên thế giới. Mặc dù tiềm ẩn nhiều rủi ro và chi phí phát triển sản phẩm cao nhƣng xu hƣớng phát triển CVTD vẫn là một tất yếu khách quan của các Ngân hàng thƣơng mại. Đặc điểm cho vay tiêu dùng của NHTM CVTD là một hoạt động tất yếu hình thành do yêu cầu của nền kinh tế. Nó có những đặc điểm riêng khác với tín dụng ngân hàng nói chung.
Giá trị mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn Các khách hàng khi tìm đến ngân hàng với mục đích vay tiêu dùng thƣờng có nhu cầu vốn không cao vì nhu cầu của ngƣời tiêu dùng đối với các loại hàng hóa xa xỉ là không cao hoặc đã có tích lũy từ trƣớc đối với những tài sản có giá trị lớn. Mặt khác, do vay tiêu dùng có độ rủi ro cao hơn nên ngân hàng cũng thƣờng thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay căn cứ vào khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo của khách hàng. Song nếu xét về quy mô thì nhu cầu vay tiêu dùng là khá lớn do đối tƣợng của loại hình vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ những ngƣời có thu nhập cao đến có thu nhập trung bình và thấp với nhiều nhu cầu phong phú, đa dạng. Khi chất lƣợng cuộc sống và trình độ dân trí đƣợc nâng cao, ngƣời dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống.
Do đó, nền kinh tế càng phát triển thì số lƣợng các khoản vay tiêu dùng sẽ càng nhiều. Các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí khá lớn Do số lƣợng món vay tiêu dùng nhiều, khách hàng đông và đa dạng nhƣng giá trị mỗi khoản vay lại nhỏ, ngân hàng phải huy động nhiều nhân lực cho hoạt động cho vay, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, quyết định cho vay. Mặt khác, ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn để quản lý các khoản CVTD với giá trị nhỏ nhƣng số lƣợng lớn vì thông tin về tài chính của khách hàng cá nhân thƣờng không minh bạch và khó kiểm soát. Tất cả những điều này làm cho chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ CVTD cao hơn so với các loại hình cho vay khác.
Các khoản CVTD thường có độ rủi ro cao Các khoản CVTD có độ rủi ro cao vì bên cạnh sự ảnh hƣởng của các yếu tố khách quan nhƣ môi trƣờng kinh tế, văn hóa, xã hội nó còn phải chịu tác động của những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân KH. Trong cuộc sống, chúng ta không thể lƣờng trƣớc đƣợc hết hậu quả do những rủi ro khách quan nhƣ suy thoái kinh tế, mất mùa, thiên tai… Đặc biệt, hoạt động CVTD phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế, nhất là khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái. Khi đó, ngƣời tiêu dùng sẽ không thấy tin tƣởng vào tƣơng lai và cùng với những lo lắng về nguy cơ thất nghiệp, họ sẽ hạn chế việc vay mƣợn từ NH. Ngoài ra, CVTD còn chịu một số rủi ro chủ quan nhƣ tình trạng sức khoẻ, khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình… Điều đó tạo nên rủi ro lớn cho NH, hơn nữa thông tin tài chính của đối tƣợng này rất khó đầy đủ và chính xác hoàn toàn.
Mặt khác yếu tố đạo đức của cá nhân ngƣời tiêu dùng cũng là nhân tố tác động trực tiếp vào việc trả nợ cho NH, hay số lƣợng các khoản vay tiêu dùng là rất lớn trong khi đó số lƣợng CBTD ngân hàng lại có hạn cũng sẽ tạo nên rủi ro cho NH d. Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất cao và cứng nhắc Quy mô những khoản vay tiêu dùng thƣờng nhỏ vào khoảng vài trăm triệu, dẫn đến chi phí cho vay cao, vì vậy lãi suất CVTD thƣờng cao và cứng nhắc hơn so với lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh vực thƣơng mại và công nghiệp. Hơn nữa, vì các khoản vay tiêu dùng có độ rủi ro cao nên khiến cho lãi suất cho vay tín dụng tiêu dùng cao hơn các khoản vay khác, đặc biệt đối với CVTD tín chấp. Vì vậy, “Không nhƣ hầu hết các khoản vay kinh doanh, lãi suất có thể thay đổi tùy theo điều kiện thị trƣờng, các khoản vay tiêu dùng thƣờng có lãi suất cố định, đặc biệt là trong vay tiêu dùng trả góp”.
Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục có khả năng sinh lời cao CVTD là một trong những khoản mục tín dụng mạng lại mức lợi nhuận cao nhất trong danh mục cho vay của ngân hàng. Các khoản CVTD thƣờng đƣợc định giá rất cao vì việc định giá này dựa trên cơ sở chi phí CVTD lớn và mức độ rủi ro cao. 7 Khi ngƣời tiêu dùng đến vay tiền của ngân hàng, họ thƣờng quan tâm tới việc có vay đƣợc tiền hay không. Và sẵn sàng chấp nhận mức lãi suất cao để có thể vay đƣợc tiền thoả mãn nhu cầu tiêu dùng.
Có thể nói, CVTD đã đem lại cho ngân hàng nguồn thu nhập cao. Đây là một thị trƣờng rộng lớn, nhiều tiềm năng, và sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong tƣơng lai. Đối tƣợng và phân loại cho vay tiêu dùng của NHTM 1. Đối tượng cho vay tiêu dùng Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, đối tƣợng tín dụng trƣớc đây của các NH đa phần xoay quanh các KH doanh nghiệp lớn, các tổ chức kinh tế có những khoản vay lớn, để giúp các NH tìm kiếm nguồn lợi nhuận lớn.
Do đó, các NH ít quan tâm đến đối tƣợng KH cá nhân. Tuy nhiên thời gian gần đây, KH cá nhân đã trở thành đối tƣợng KH tiềm năng trong xu hƣớng phát triển NH hiện đại đồng thời với sự vỡ nợ hàng loạt của các tổng công ty nhà nƣớc đã gây ảnh hƣởng không ít đến tâm lý thận trọng và giới hạn cho vay đối với các doanh nghiệp nên các NH đã có những điều chỉnh trong hoạt động cho vay của mình. Cụ thể các NH đã chú ý nhiều hơn đến đối tƣợng KH cá nhân và bắt đầu có sự đa dạng hóa danh mục cho vay sang hƣớng KH cá nhân. Cho nên tạm kết luận, KH cá nhân là nhóm KH có một vị trí rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của một NH bất kỳ và vị thế của KH cá nhân càng đƣợc khẳng định hơn nữa cả trên lý thuyết cũng nhƣ trên thực tiễn.
Nhƣ vậy, đối tƣợng CVTD đó là các nhu cầu của cá nhân tùy thuộc vào tình hình tài chính và nguồn thu nhập của họ mà có những mức độ khác nhau, cụ thể nhƣ: - Các cá nhân có mức thu nhập thấp: nhu cầu tín dụng tiêu dùng thƣờng không cao, nó chỉ xuất hiện nhằm thoả mãn nhu cầu gia đình, tạo sự cân đối giữa thu nhập và chi tiêu. - Các cá nhân có mức thu nhập trung bình: nhu cầu tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh do ý muốn vay mƣợn để mua hàng tiêu dùng lớn hơn khoản tiền dự phòng của mình. - Các cá nhân có mức thu nhập cao: nhu cầu tín dụng tiêu dùng nảy sinh nhằm tăng thêm khả năng thanh toán hoặc tài trợ chi tiêu khi mà nguồn vốn của họ đã nằm trong tài khoản đầu tƣ. Phân loại cho vay tiêu dùng Mảng CVTD ngày càng đƣợc chú trọng và xem là một trong những mục tiêu phát triển hàng đầu của các NHTM, trên cơ sở những đặc điểm riêng của CVTD và sự phối hợp những hình thức tín dụng ngân hàng nói chung ngày càng nhiều loại hình sản phẩm CVTD ra đời với nhiều tên gọi khác nhau.