phần mở đầu, kết thúc, danh mục bảng biểu, sơ đồ, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển cho vay cá nhân tại các ngân hàng thương mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển cho vay cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển cho vay cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về cho vay cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái quát về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại: Tại Mỹ, NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính (Bách khoa toàn thư – Wikipedia) Đạo luật Ngân hàng của Pháp năm 1941 cũng đã định nghĩa: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” (Bách khoa toàn thư – Wikipedia). Còn theo quan điểm của Peter S.Rose: “Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất (đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán)” (Peter S.
Đây cũng chính là những hoạt động chính của ngân hàng thương mại. Tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16 tháng 06 năm 2010 thì ngân hàng được định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” (Luật các tổ chức tín dụng, 2010, điều 4. Từ phân tích các khái niệm nêu trên, đặc biệt là từ những điểm thống nhất chung, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về ngân hàng như sau: “Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, cung cấp một danh mục dịch vụ tài chính tổng hợp với các loại hình chủ yếu là: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ và thanh toán qua tài khoản”. NHTM là bộ phận lớn nhất trong hệ thống các tổ chức trung gian tài chính.
Các dịch vụ truyền thống của NHTM là huy động tiền gửi chủ yếu ở dạng ngắn hạn, tài trợ thương mại chủ yếu dưới hình thức chiết khấu thương phiếu và làm dịch vụ 7 thanh toán. Tuy nhiên, dưới áp lực cạnh tranh và thị trường phát triển, các NHTM hiện nay đã chuyển sang kinh doanh tổng hợp, thực hiện huy động vốn và cho vay trung dài hạn, đồng thời cung cấp hầu như toàn bộ các dịch vụ ngân hàng. Đặc điểm của ngân hàng thương mại *Về cấu trúc tài chính và tài sản: ngân hàng thƣơng mại là doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ số nợ rất cao và cấu trúc tài sản đặc biệt NHTM là doanh nghiệp có quy mô lớn trên cả góc độ vốn chủ sở hữu và tổng tài sản. Ở Việt Nam, vốn chủ sở hữu của các NHTM là hàng nghìn tỷ đồng.
Đối với các NHTM trên thế giới, vốn chủ sở hữu lên tới nhiều tỷ đô la Mỹ. Mạng lưới các chi nhánh Ngân hàng thường rất lớn và phân tán rộng về địa lý. Trong khi quy mô về vốn chủ sở hữu đã rất lớn, nguồn vốn của NHTM lại chủ yếu là nợ được huy động từ bên ngoài Ngân hàng. Cấu trúc tài sản của Ngân hàng thương mại đặc biệt hơn so với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khác là ở tỷ trọng tài sản tài chính.
Nếu như các doanh nghiệp sản xuất, tài sản chủ yếu là tài sản cố định, công cụ dụng cụ hay hàng hóa… thì tại các NHTM, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng tài sản là tài sản tài chính. Đó là những tài sản có giá trị không dựa vào nội dung vật chất của nó mà dựa vào các quan hệ trên thị trường như: sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, cổ phiếu, trái phiếu…… *Hoạt động của ngân hàng thƣơng mại luôn chứa đựng nhiều rủi ro và chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống luật pháp Hoạt động của NHTM chứa đựng nhiều rủi ro hơn các ngành kinh doanh khác. Rủi ro trong hoạt động của NHTM đa dạng, ở mức độ cao, tích luỹ nhanh và dễ lây lan. Rủi ro trong hoạt động của NHTM bao gồm các loại rủi ro đặc thù như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro vốn khả dụng, rủi ro đạo đức,…Là doanh nghiệp có quy mô lớn, mạng lưới rộng khắp, hoạt động chịu nhiều rủi ro, ảnh hưởng đáng kể đến nhiều hoạt động kinh tế xã hội, NHTM chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của hệ thống pháp luật.
Các quy định pháp lý đối với Ngân hàng thương mại được phổ rộng trên nhiều mặt của hoạt động kinh doanh như: điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn của người lãnh đạo ngân hàng, dự trữ bắt buộc, bảo hiểm tiền gửi, an toàn trong hoạt động, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, sử dụng vốn tự có đầu tư cho tài sản cố định,… 8 * Tính liên kết và ổn định của hệ thống Ngân hàng Hệ thống Ngân hàng có tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn. Hơn bất cứ ngành kinh doanh nào trong nền kinh tế, rủi ro trong hoạt động Ngân hàng có tính lan toả rất nhanh. Hoạt động như một hệ thống các mắt xích liên kết chặt chẽ, chỉ cần một ngân hàng thương mại, dù yếu và nhỏ nhất, gặp khó khăn trong hoạt động, đặc biệt là khó khăn về thanh khoản, là có thể dẫn đến nguy cơ phá sập hệ thống. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại * Nghiệp vụ huy động vốn Đây là một hoạt động cơ bản của NHTM.
Ngân hàng nhận được các khoản tiền gửi của khách hàng dưới các hình thức tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Ngân hàng nhận tiền gửi của cá nhân, của tổ chức và các doanh nghiệp. Ngân hàng phải hoàn trả gốc lãi cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu sử dụng đến rút tiền ở ngân hàng. Đây là nghiệp vụ giúp tạo nguồn vốn chủ lực cho hoạt động kinh doanh.
Không có nghiệp vụ huy động vốn, NHTM sẽ không đủ nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của mình. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn, NHTM có thể đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Từ đó có biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. *Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng Nguồn vốn huy động sau khi đã thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ (nghiệp vụ liên quan đến việc điều hành ngân quỹ của ngân hàng nhằm duy trì năng lực thanh toán bình thường), sẽ được sử dụng để cho vay.
Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ đặc trưng nhất của NHTM. Nó tạo ra hình thức tín dụng ngân hàng và ngân hàng sẽ tiến hành phân phối có trọng điểm nguồn vốn đã hình thành trong nghiệp vụ huy động, điều tiết vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, bổ sung vốn cho sản xuất kinh doanh. Đối với ngân hàng, đây là nghiệp vụ quan trọng nhất, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ yếu. Nghiệp vụ tín dụng ngân hàng bao gồm các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính.
Trong đó, hoạt động cho vay được xem là hoạt động ính lợi chủ yếu của các ngân hàng. Các sản phẩm của hoạt động cho vay cũng rất đa dạng và phong phú. 9 * Nghiệp vụ đầu tƣ Ngân hàng tham gia vào đầu tư, mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức chứng khoán và từ chênh lệch thị giá chứng khoán mua bán trên thị trường. Ngoài ra, ngân hàng còn có thể thực hiện hùn vốn liên doanh, qua đó trực tiếp góp vốn vào các doanh nghiệp để thành lập công ty, xí nghiệp mới.
*Nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại Các ngân hàng có thể tham gia mua bán ngoại tệ, huy động vốn ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu của đầu tư cho vay cũng như kiếm lời. Việc kinh doanh ngoại yệ còn góp phần thúc đẩy trong công tác thanh toán quốc tế, tài trợ cho xuất nhập khẩu. * Nghiệp vụ trung gian Ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện việc thanh toán hay các uỷ thác khác để thu phí. Nghiệp vụ trung gian chủ yếu gồm: nghiệp vụ chuyển tiền, nghiệp vụ thu hộ, nghiệp vụ tín thác và một số nghiệp vụ khác 1.
Hoạt động cho vay tại các Ngân hàng thương mại 1. Khái quát về hoạt động cho vay tại các Ngân hàng thương mại Cho vay là nghiệp vụ cơ bản nhất của hoạt động cấp tín dụng. Nếu cấp tín dụng được định nghiã là “việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả” (GS.TS Nguyễn Văn Tiến) thì hoạt động cho vay có khái niệm là “hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi” (GS.TS Nguyễn Văn Tiến). Tuy còn nhiều cách định nghĩa khác nhau, cho vay là một nghiệp vụ thoả mãn ba tiêu chí chính: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng hay còn gọi là từ người cho vay sang người đi vay.
- Sự chuyển nhượng này là tạm thời. - Khi hoàn trả tiền vay người đi vay phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Đặc điểm của hoạt động cho vay tại các Ngân hàng thương mại * Tính pháp lý của nghiệp vụ cho vay Cho vay của ngân hàng là một khái niệm kinh tế hơn là pháp lý. Các hành vi cho vay của ngân hàng có cùng một logic kinh tế, hứng chịu rủi ro cho một người mà ngân hàng cảm thấy tin tưởng ứng vốn cho vay.
Nhưng nó không chỉ gồm một giao dịch pháp lý mà nhiều loại (cho vay, bảo lãnh, cầm cố.