Chương 1: Tổng quan về phát triển cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thị xã Duy Tiên, Hà Nam; Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh thị xã Duy Tiên, Hà Nam. 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Theo Nguyễn Thị Mùi (2008): Trong các nghiệp vụ cấp tín dụng thì hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của NHTM. Hoạt động cho vay ra đời sớm nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập của NHTM. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng (HĐTD) và hoặc giấy nhận nợ.
Theo thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đồi với khách hàng, “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Khách hàng cá nhân tại NHTM là nhóm đối tượng bao gồm cá nhân, hộ gia đình, chủ trang trại, tổ hợp tác. được các NHTM áp dụng phương thức cho vay theo quy trình thủ tục của cho vay khách hàng cá nhân. Như vậy, cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM giao cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình một khoản tiền để sử dụng trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích đáp ứng nhu cầu vay vốn để tiêu dùng và phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Theo Nguyễn Thị Mùi (2008), cho vay KHCN có những đặc điểm riêng thể hiện sự khác biệt với các loại hình cho vay khác như sau: Về đối tượng: Đối tượng vay vốn trong cho vay KHCN là các cá nhân, hộ gia 10 đình, tổ hợp tác có nhu cầu sử dụng vốn phục vụ mục đích tiêu dùng, đầu tư hay phục vụ hoạt động SXKD. Khác với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, KHCN thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng song không thường xuyên và chịu sự ảnh hưởng nhiều của môi trường kinh tế, văn hóa - xã hội. Chính vì vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của KHCN cũng rất khác nhau. Quy mô khoản vay thường tương đối nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn: do cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân và các hộ gia đình nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ, nên quy mô của một khoản vay tương đối nhỏ so với tài sản của ngân hàng, số lượng các khoản vay lại rất lớn do đối tượng của cho vay là các cá nhân và các hộ gia đình với số lượng nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng.
Mục đích vay đa dạng: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân, hộ gia đình.“Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và ổn định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tương lai, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu nhập nhiều hơn trong tương lai và do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở hiện tại. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái người dân thường có xu hướng giảm tiêu dùng, giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thay vào đó là sẽ tăng cường tiết kiệm và hạn chế vay mượn từ Ngân hàng. Rủi ro đối với cho vay KHCN thường cao hơn cho vay các đối tượng khác: Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức khoẻ, công việc… Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức khó khăn.
Ngoài ra, để có được khoản vay có nhiều khách hàng giấu các thông tin về tình hình sức khoẻ và công việc trong tương lai của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay. Do khoản cho vay KHCN có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thường yêu cầu phải có tài sản đảm bảo khi vay và yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hoá đã mua. Lãi suất cho vay thường cao hơn cho vay doanh nghiệp, do quy mô của các 11 khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản cho vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản cho vay này) cao đồng thời rủi ro của các khoản vay này cũng rất cao. Do vậy, lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác của NHTM, đặc biệt là cho vay doanh nghiệp.
Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân - Đối với nền kinh tế: Giúp ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn nhàn rỗi trong xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: giúp nguồn vốn nhàn rỗi luân chuyển đến khách hàng có nhu cầu cần vốn đầu tư sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng. Để có thể trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng, khách hàng phải có chính sách sử dụng vốn hiệu quả, đảm bảo có nguồn thu nhập để trả nợ cho ngân hàng. Giúp ngân hàng góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đẩy mạnh đầu tư phát triển: Cho vay KHCN nhằm mục đích kinh doanh cá nhân, hộ gia đình giúp quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, thúc đẩy quá trình mở rộng quy mô. Có vai trò quan trọng trong việc tổ chức điều hòa lưu thông tiền tệ, biến nguồn vốn nhàn rỗi không sử dụng thành nguồn vốn lưu thông hoạt động hiệu quả.
Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia: hoạt động cho vay KHCN hiệu quả sẽ góp phần làm giảm các dịch vụ tín dụng đen, cho vay nặng lãi. Cho vay KHCN được coi là một công cụ quan trọng làm kích cầu tiêu dùng, qua đó làm tăng sản lượng và tạo thêm các cơ hội việc làm, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Từ đó, hoạt động cho vay KHCN tại NHTM góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của quốc gia, mang lại nguồn thu cho xã hội, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia (Lâm Chí Dũng, 2015). - Đối với ngân hàng thương mại: Hoạt động cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất, tạo ra lợi nhuận chính cho các ngân hàng trong đó có cho vay KHCN.
Lợi nhuận từ cho vay KHCN chiếm một phần không nhỏ trong tổng lợi nhuận của các NHTM. Tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa NHTM và các chủ thể kinh tế. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu vay vốn của KHCN càng ngày càng tăng, đây là 12 một thị trường khách hàng tiềm năng mà các NHTM cần khai thác. Cùng với nhu cầu vay vốn tại ngân hàng là nhu cầu gửi vốn của khách hàng cá nhân tại NHTM, giúp cho các ngân hàng tăng thêm thị phần huy động vốn cho ngân hàng, tạo nguồn vốn dồi dào phục vụ cho các loại hình cho vay khác tại ngân hàng.
Do vậy việc tạo mối quan hệ gắn bố giữa NHTM và các cá nhân, chủ thể nền kinh tế hơn nữa. Giúp ngân hàng tạo uy tín, danh tiếng cho NHTM: cho vay KHCN hoạt động hiệu quả, khách hàng đánh giá tốt, hài lòng với dịch vụ cho vay này (nhất là cho vay tiêu dùng cá nhân) tạo được uy tín, hình ảnh của ngân hàng. Cho vay KHCN làm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng quy mô hoạt động của NHTM: Khi khách hàng cá nhân đến giao dịch với ngân hàng để vay vốn sẽ sử dụng thêm một số dịch vụ khác của ngân hàng như mở tài khoản tiền gửi thanh toán, tài khoản tiền vay, phát hành thẻ hoặc sử dụng một số dịch vụ ngân hàng điện tử của các NHTM. Từ đó giúp mở rộng quy mô hoạt động của các NHTM, tăng khả năng cạnh tranh cho các ngân hàng.
- Đối với khách hàng cá nhân: Giúp người tiêu dùng có thể được hưởng các tiện ích dịch vụ cung cấp trong khi họ chưa đủ tài chính, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho khách hàng. Từ đó tạo động lực để làm việc và có kế hoạch chi tiêu tài chính để có nguồn trả nợ cho ngân hàng. Hoạt động cung cấp vốn của NHTM giúp khách hàng cá nhân của ngân hàng có được nguồn tài chính kịp thời cho các hoạt động tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh của mình, đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất của cá nhân được liên tục không bị gián đoạn. Thông qua hoạt động cho vay giúp cho các khách hàng nắm rõ tình hình tài chính cá nhân của mình, đặc biệt là các khách hàng có trình độ dân trí thấp.
Phân loại cho vay khách hàng cá nhân Theo Nguyễn Văn Tiến (2013) các hình thức cho vay KHCN bao gồm: * Căn cứ vào thời hạn cho vay Cho vay ngắn hạn: là khoản vay có thời gian đáo hạn dưới 12 tháng, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt chi tiêu ngắn hạn, bổ sung vốn lưu động phục vụ 13 SXKD của các cá nhân và hộ gia đình. Rủi ro của khoản vay này khá nhỏ, vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra.