Chương 1: Cơ sở lý luận chung về phát triển cho vay bán lẻ của Ngân hàng thương mại. 7 Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Sơn Tây. Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Sơn Tây. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Tổng quan về cho vay bán lẻ của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm của cho vay bán lẻ của NHTM 1. Khái niệm cho vay và cho vay bán lẻ a. Khái niệm cho vay Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận.
Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trử, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư. Đặc biệt, đối với các NHTM Việt Nam thì lợi nhuận từ hoạt động cho vay đem lại chiếm một phần rất lớn trong tổng lợi nhuận của ngân hàng (chiếm từ 70 - 85% tổng lợi nhuận). Do vậy, cho vay được xem là hoạt động chủ đạo của các NHTM Việt Nam. Cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật, từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định và khi đến hạn thì người sử dụng phải hoàn trả cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Phần chênh lệch tăng thêm được gọi là phần lãi. Đây chính là cái giá mà người sử dụng phải bỏ ra để được quyền sử dụng một lượng tiền tệ hay hiện vật trong một khoảng thời gian nhất định. Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Khái niệm cho vay bán lẻ Cho vay bán lẻ cùng với cho vay bán buôn là hai bộ phận cấu thành nên hoạt động tín dụng của NHTM.
Nếu cho vay bán buôn là hoạt động ngân hàng cho các tổ chức, doanh nghiệp vay để kinh doanh dịch vụ hay thực hiện các dự án đầu tư, các phương án sản xuất thì cho vay bán lẻ lại là hình thức tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng hoặc các phương án sản xuất kinh doanh hợp pháp của các cá nhân và gia đình, hộ kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người vay trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ…Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ bởi cho vay bán lẻ. Như vậy, bằng việc cho vay bán lẻ, các ngân hàng sẽ giúp các cá nhân, hộ gia đình thoả mãn nhu cầu trước khi họ có khả năng chi trả. Do đó, ta có thể đưa ra một khái niệm mang tính tổng quát về cho vay bán lẻ tại NHTM như sau: “Cho vay bán lẻ là một hình thức cho vay, qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng (cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền) trong một khoảng thời gian nhất định ,với những thoả thuận mà hai bên đã kí kết (về số tiền cấp; thời gian cấp; lãi suất phải trả …) nhằm giúp cho khách hàng có thể sử dụng những hàng hoá, dịch vụ, thực hiện những phương án kinh doanh trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một cuộc sống cao hơn hoặc thực hiện phương án kinh doanh hiệu quả”.
Đặc điểm cho vay bán lẻ tại NHTM a. Đặc điểm về quy mô Đối với cho vay bán lẻ có thể thấy một đặc điểm là qui mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay rất lớn. Đối tượng vay vốn rất rộng và số lượng khách hàng lớn, bao gồm các cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế nhưng giá trị của từng khoản vay thường nhỏ. Với mục đích chủ yếu là vay để tiêu dùng nên các khoản vay thường không lớn.
10 Hơn nữa, nhu cầu của dân cư với các loại hàng hoá xa xỉ là không cao hoặc người vay cũng đã có một khoản tiền tích luỹ trước đối với các loại tài sản có giá trị lớn. Tuy vậy, vay tiêu dùng lại là nhu cầu vay vốn khá phổ biến, đa dạng và thường xuyên đối với mọi tầng lớp dân cư nên mặc dù mỗi món vay tiêu dùng có quy mô nhỏ nhưng do số lượng các khoản vay lớn khiến cho tổng quy mô cho vay bán lẻ của các ngân hàng thường khá lớn. Đặc điểm về lãi suất Không như hầu hết các khoản cho vay sản xuất kinh doanh hiện nay có lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, lãi suất cho vay bán lẻ thường được cố định hoặc thay đổi theo chu kỳ dài hơn. Khi đưa ra mức lãi suất cho vay bán lẻ các ngân hàng sẽ phải dự tính đến: yếu tố lãi suất huy động đầu vào; tính đến phần bù rủi ro và chi phí.
Chi phí cho hoạt động cho vay bán lẻ lớn do các khoản vay nhỏ lẻ, lượng khách hàng lớn nên chi phí quản lý, chi phí hoạt động lớn, nhu cầu sử dụng nguồn trung dài hạn cao nên chi phí vốn cao. Hơn nữa, cho vay bán lẻ còn được xem là tiềm ẩn nhiều rủi ro nên phần bù rủi ro cũng khá cao. Vì thế, lãi suất cho vay bán lẻ thường cao hơn từ 3-5 %/năm so với cho vay sản xuất kinh doanh. Cho vay bán lẻ có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế Cho vay bán lẻ chịu tác động mạnh và phụ thuộc lớn vào chu kỳ kinh tế, tăng mạnh trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng tốt, thu nhập cao, chi tiêu tăng, đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhỏ lẻ sinh lời cao.
Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng, giảm thu nhập thì rất nhiều cá nhân, hộ gia đình sẽ cảm thấy không mấy tin tưởng vào tương lai, hạn chế chi tiêu, các doanh nghiệp nhỏ nhanh chóng thu hẹp sản xuất. Do đó, việc vay tiêu dùng sẽ hạn chế, làm cho số lượng và dư nợ các khoản cho vay bán lẻ giảm xuống trầm trọng. Đặc điểm về cơ cấu 11 Cơ cấu khoản vay thường tập trung vào vay trung dài hạn do các nhu cầu vay vốn chủ yếu tập trung vào mua sắm tài sản cố định (mua nhà ở, mua đất, mua xe, sửa chữa nhà ở ….) nên các khoản vay thường có thời hạn trên 12 tháng. Đặc điểm về rủi ro Nhìn chung, các khoản cho vay bán lẻ có độ rủi ro cao vì bên cạnh sự ảnh hưởng của các yếu tố khách quan như môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội… nó còn chịu tác động của những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân khách hàng.
Trong cuộc sống chúng ta không thể lường trước được hết hậu quả do những rủi ro khách quan như suy thoái kinh tế, mất mùa, thiên tai… Ngoài ra, cho vay bán lẻ còn chịu một số rủi ro chủ quan như tình trạng sức khoẻ, khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình…Điều đó tạo nên rủi ro lớn cho ngân hàng. Hơn nữa chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao, đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình khó xác định, đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa các báo cáo tài chính thường lập sơ sài, phản ánh không chính xác tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và hầu hết không được kiểm toán trong khi số lượng cán bộ tín dụng của ngân hàng thì có hạn. Mặt khác, yếu tố đạo đức cá nhân người tiêu dùng cũng là nhân tố tác động trực tiếp vào việc trả nợ cho ngân hàng. Tuy nhiên, về tổng thể, cho vay bán lẻ có khả năng phân tán rủi ro do số lượng khách hàng lớn, giá trị khoản vay nhỏ.
Vai trò của cho vay bán lẻ đối với NHTM 1. Đối với nền kinh tế Hoạt động cho vay nói chung có vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy kinh tế phát triển, bên cạnh đó hoạt động cho vay bán lẻ có một số vai trò đặc thù sau: Góp phần đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, sử dụng hiệu quả nguồn vốn để các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ gia đình mở rộng sản xuất hàng 12 hóa, dịch vụ, giải quyết khối lượng lớn công ăn việc làm, nâng cao vai trò của các thanh phần kinh tế này trong nền kinh tế, đóng góp ngày càng tăng trong GDP. Góp phần kích cầu tiêu dùng: với các sản phẩm cho vay mua nhà ở, ôtô, trang thiết bị phục vụ sinh hoạt gia đình… phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng, các sản phẩm cho vay tiêu dùng thông qua các loại thẻ nội địa và quốc tế, kích thích người dân tăng cường chi tiêu, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư gia tăng năng lực sản xuất, tăng trưởng kinh tế. Góp phần đẩy lùi tệ nạn tín dụng đen, cho vay nặng lãi ở nhiều nơi: kênh cho vay bán lẻ được khai thông, giúp các khách hàng cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ dễ tiếp cận nguồn vốn ngân hàng có lãi suất hợp lý sẽ hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở nhiều nơi.
Đối với khách hàng Cung cấp kịp thời và đáp ứng đủ nhu cầu về nguồn vốn, phát huy tối đa nội lực khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khai thác hết tiềm năng về lao động, đất đai, hàng hóa, máy móc, nhà xưởng… hợp lý và có hiệu quả nhất. Góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, tạo điều kiện nâng cao dân trí, hình thành những thói quen sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, phù hợp với sự xu thế phát triển của xã hội.