Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam — Chi nhánh Kiên Giang. Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - Chỉ nhánh Kiên Giang CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI RUI RO TIN DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.1 TIN DUNG BAN LE VA QUAN TRI RUI RO TIN UNG CUA NGAN HANG THUONG MẠI 1.1 Khái niệm tín dụng bán lẻ *Khái niệm về tín dụng Quan hệ tín dụng đã hình thành và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội. Tuy nhiên, dù ở trong bất kỳ môi trường xã hội nào, đối tượng vay mượn là hàng hóa hay tiền tệ thì bản chất của tín dụng được thê hiện qua các nội dung sau: - Quan hệ tín dụng là quan hệ vay mượn - Quan hé tín dụng là quan hệ dựa trên sự tin tưởng và hoàn trả.
- Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác, người đi vay phải trả thêm phân lợi tức. Theo Luật các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/06/2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”[14] *Tín dụng bán lẻ: Tín dụng bán lẻ là các hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại đối với đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình và hộ kinh doanh cá thé.[3] và vai trò của tín dụng bán lẻ *Đặc điểm của tín dụng bán lẻ Các khoản cấp tín dụng đối với khách hàng bán lẻ có dư nợ thấp do bị giới hạn bởi những điều kiện từ ngân hàng đó là: tính hợp lý của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo Khách hàng bán lẻ thường có các hình thức cấp tín dụng dé bé sung vốn kinh doanh nhưng do quy mô hạn chế nên giá trị khoản vay thấp hay cấp tín dụng để tiêu dùng, chỉ tiêu cho cuộc sống, như mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học. Số lượng khách hàng bán lẻ lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể trong xã hội, sản phẩm của ngân hàng đa dạng đáp ứng nhiều nhu cầu đề phát triển được nhiều tầng lớp khách hàng bán lẻ. Mặc khác nhu cầu tín dụng phong phú và đa dạng của khách hàng bán lẻ, vì khi khoa học công nghệ phát triển, các hình thức cấp tín dụng cũng phải phát triển đa dạng theo nhu cầu phục vụ chất lượng cuộc sống.
và phủ hợp với trình độ dân trí được nâng cao. Do đặc điểm của khách hàng bán lẻ là số lượng nhiều và phân tán rộng nên để duy trì và phát triển cấp tín dụng bán lẻ sẽ tốn kém nhiễu chi phi cho các công tác mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng khách hàng cá nhân ở từng địa bàn, khu vực; Nhu cau công tác phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thảm định đến quyết định cấp tín dung, giải ngân và thu nợ ngày cảng tăng. Các chỉ phí liên quan phát sinh tăng như: Chi phí phát triển sản phẩm, chi phí dao tạo nội bộ, chỉ phí thu thập thông tin khách hàng, chỉ phí quan lý.[3] *Vai trò của tín dụng bán lẻ trong nền kinh tế Đối với nền kinh tế - xã hội tín dụng bán lẻ góp phần tạo sự năng động cho các thành phần kinh tế. Tín dụng bán lẻ là kênh tài trợ vốn tạo điều kiện cho các cá nhân, hộ gia đình có đủ khả năng trang trải các chỉ phí phát sinh trong cuộc sống từ thỏa mãn nhu cầu thiết yếu cho đến nhu cầu xa xỉ với chỉ phí đắt đỏ, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.
Để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, buộc các thành phần kinh tế phải đẩy mạnh. sản xuất, do đó tạo nhiều công ăn việc làm, tạo ra những khác biệt tích cực giúp tăng khả năng cạnh tranh trước các đối thủ trong và ngoài nước trong thời kỳ hội nhập. Tin dung bán lẻ góp phần khai thác triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội rồi lưu thông các nguồn vốn này một cách trôi chảy và hiệu quả, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao. Tin dung bán lẻ giúp kích cầu trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đây sản xuất trong nước.
Do đó thu hút nhiều lực lượng lao động. tham gia xây dựng, sản xuất tạo công ăn việc làm, hướng đến các mục tiêu xã hội như xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội góp phần tạo. sự ôn định về mặt xã hội. Đối với ngân hàng tín dụng bán lẻ góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng: Do có đối tượng khách hàng bán lẻ rất rộng nên việc phát triển tin dụng bán lẻ sẽ giúp hình ảnh thương hiệu của ngân hàng được phổ biến rộng khắp.
Thông qua tín dụng bán lẻ, ngoài việc cấp tín dụng cho khách hàng còn giúp ngân hàng thuận lợi trong bán chéo sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ như: tiền gửi tiết kiệm, giao dịch thanh toán, chuyển lương qua tài khoản, phát hành - thanh toán thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử. Khả năng cung cấp. gói sản phẩm dịch vụ tài chính cá nhân đồng bộ thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng sẽ tạo nét khác biệt cho ngân hàng trong cạnh tranh với đối thủ, do đó góp phần nâng cao thương hiệu cho ngân hàng. Tín dụng bán lẻ còn góp phân phân tán rủi ro cho ngân hàng: Nếu một ngân hàng chỉ tập trung cho.
10 vay các khách hàng doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn, mức độ rủi ro sẽ tập trung vào các đối tượng này, khi hoạt động kinh doanh của các khách hàng này gặp khó khăn gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. _ Do vậy, với nguyên tắc “tránh để tất cả trứng vào một rổ”, các ngân hàng phát triển tín dụng bán lẻ như một biện pháp phân tán rủi ro, với số lượng khách hàng bán lẻ nhiều, đa dạng, số tiền vay nhỏ lẻ nếu có một khách hàng hoặc một só khách hàng gặp rủi ro dẫn đến không có khả năng trả nợ thì khả năng gây ảnh hưởng chung đến toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng là thấp. Đối với khách hàng bán lẻ tín dụng bán lẻ giúp cho các khách hàng linh hoạt hơn trong việc giải quyết vấn đề thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của bản thân và gia đình. Thay vì phải tích lũy đủ vốn ở hiện tại để thực hiện kế hoạch của bản thân và gia đình, người tiêu dùng sẽ khéo léo phối hợp giữa thoả mãn nhu cầu ở hiện tại với khả năng thanh toán ở hiện tại và tương lai.
Nghĩa là họ sẽ tiêu dùng trước bằng cách lựa chọn phương án vay vốn ngân hàng rồi tích lũy và hoàn trả sau cho ngân hàng. Ngoài ra tín dụng bán lẻ giúp cho các cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể có điều kiện dé mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh trong ngành góp phần phát triển kinh tế. Với điều kiện cấp tín dụng đơn giản hơn đối với khách hàng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân phù hợp với hình thức kinh doanh nhỏ lẻ, phù hợp với đặc tính và tập quán kinh doanh của đối tượng này.2 Rủi ro tín dụng bán lẻ 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng bán lẻ Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng, theo quy định tại Điều 3 Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân Hàng Nhà Nước quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài là: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tốn thất trong hoạt động Ngân hàng của tô chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. (trích nguồn: Ngân hàng Nhà nước)[12] Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với Ngân hàng, khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho Ngân hàng, gây tổn thất cho Ngân hàng.
Vậy rủi ro tín dụng Ngân hàng là những biến có không mong đợi xảy ra, gây mất mát thiệt hại tài sản, thu nhập của Ngân hàng trong quá trình hoạt động. Là những thiệt hại kinh tế mà Ngân hàng thương mại phải gánh chịu do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ vối hoặc không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng do các nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Rủi ro tín dụng gây tôn thất về tài chính cho Ngân hàng, đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn, trong. trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thé din đến phá sản.2 Phân loại rủi ro tín dụng bán lễ Có nhiều cách dé phân loại rủi ro tín dụng khác nhau, nhưng phô biến nhất là các cách phân loại theo tiêu chí hình thức biểu hiện, tiêu chí nguyên nhân phát sinh rủi ro va tiêu chí phạm vi rủi ro * Phân loại rủi ro tín dụng theo hình thức biểu hiện: có hai loại ~ Rủi ro sai hẹn: là rủi ro khi người vay vốn không hoàn trả đủ gốc và lãi tiền vay đúng hẹn trong hợp đồng tín dụng.
~ Rủi ro mắt vốn: là rủi ro khi người vay vốn Ngân hàng không hoàn trả gốc tiền vay một cách đầy đủ. * Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh rủi ro: gồm có.